16.
Linh Thứu của Ấn Độ, Tung Sơn của Trung Quốc, Yên Tử của Việt Nam. Đó là ba ngọn núi linh thiêng nhất trong Phật giáo vùng Đông Nam Á.
Trên đỉnh Linh Thứu xa xôi và vĩ đại, Đức Thích-ca đã từng giảng bộ Kinh diệu pháp liên hoa cho thiên nhân và loài người. Đó cũng là nơi Ngài đã cầm một cành hoa lên, chỉ mỉm cười không nói. Ấy thế mà từ cử chỉ ‘niêm hoa vi tiếu’ đó, phương thức ‘tâm truyền tâm’ đã ra đời và truyền lại suốt bao thế hệ sau của các bậc tăng sĩ phái Thiền Tông. Còn Tung Sơn của vùng đại lục lại là nơi Bồ-đề Đạt-ma đã tọa thiền quay mặt vào vách suốt chín năm ròng cho đến ngày gặp được Huệ Khả, kẻ tình nguyện chặt đứt một cánh tay để tỏ rõ lòng thành.
Nhưng Linh Thứu và Tung Sơn xa xôi quá, cô nghĩ, chi bằng mình hãy đi Yên Tử.
.
17.
Suốt ba năm sau đó, họ không hề gặp lại nhau.
Cô không biết anh vẫn ở lại Sài Gòn hay đã trở về Hà Nội. Cái nắng gay gắt của thành phố phương Nam có khiến anh nhớ nhung da diết cái lạnh se sắt của đêm Hà thành trở gió? Người con gái tính khí thất thường là cô có khiến anh buồn phiền vì tấm chân tình trao đi nhưng không được đền đáp lại của mình?
Cô không rõ vì sao phải rời xa anh, nhưng cô biết mình cần phải làm như thế.
Anh giống như một giấc mơ đẹp rất dễ dàng khiến người ta chìm đắm. Cô không muốn một ngày nào đó tỉnh giấc lại, ngay cả nụ cười của anh như thế nào cũng không còn nhớ rõ.
Vì thế, cô quyết định rời khỏi trước khi giấc mơ đó kịp biến mất. Cô muốn tìm một nơi yên tĩnh để nhìn lại lòng mình. Cô muốn trong sự thành kính và tĩnh tâm nhất, tự hỏi mình, có thật đã yêu người thanh niên đó?
Có thật cô đã yêu anh đủ nhiều để muốn sống cùng anh hết quãng đời còn lại, cùng anh già đi, sống bên nhau cho đến lúc đầu bạc răng long?
Đã yêu anh đủ nhiều để muốn vì anh mà dùng chính sinh mệnh của mình sản sinh ra những sinh mệnh khác, cũng như mẹ đã vì bố mà sinh ra các anh chị em cô?
Ở tuổi 24, cô biết mình hãy còn điên cuồng nhiều lắm. Liệu có thể vì anh mà gác lại mọi tự do và cô đơn, trở thành người phụ nữ của gia đình và chồng con?
Cô nghĩ, muốn ngủ lại một đêm trên núi Yên Tử.
Trong những lần dẫn đoàn ra phương Bắc, không hiểu vì sao cô luôn lỡ hẹn ghé thăm ngọn núi này. Chỉ có thể nghe đến tên nó, chỉ có thể nhìn thấy qua ảnh chụp, chỉ có thể từ lời kể của những đồng nghiệp đi trước, gầy dựng lại một ấn tượng về Yên Tử cho riêng mình. Thời gian đó, loại hình du lịch tâm linh vẫn chưa phát triển mạnh ở Việt Nam. Ngay cả dân làm nghề như bọn cô cũng rất mơ hồ về sự tồn tại của nó. Còn nhớ lần đầu tiên nghe đến, cô đã nghĩ ngay về những ngôi chùa mái cong bốn đỉnh và những bệ thờ cháy đỏ lư hương. Tâm linh, hai tiếng ấy vang lên như một câu chú niệm, vọng vào lòng người những mộng tưởng bình an.
Dạo ấy, cô còn là một kẻ vô thần, không tin vào những cái gọi là “tôn giáo, đức tin”. Dạo ấy, cô còn là một kẻ non người, bất chấp mọi minh chứng khoa học đưa ra, vẫn tin rằng Trái Đất là hành tinh dọc theo chiều thẳng đứng. Cứ đi, đi mãi về phía trước, là sẽ có thể thoát khỏi những chuyện cũ và năm tháng xưa. Giấc mộng lớn nhất của cô trong một thời gian dài chỉ là như thế. Cuộc đời biến động, nơi chốn khác nhau, quan hệ mới mẻ. Cô không muốn lặp lại bản thân mình, dù chỉ trong một phút một giây.
Lý do chọn lữ hành làm nghiệp cũng chỉ đơn giản như thế. Công việc mang lại thu nhập, lấy đi thời gian, đưa đến những mối quan hệ có thời hạn, và quan trọng nhất, là phương tiện giúp cô tiến về phía trước, một cách chính đáng và dễ dàng.
Hàng năm, khi mùa Phật Đản đến, từng có nhiều đoàn Phật tử tìm đến công ty cô, nhờ thiết kế hộ tour hành hương về đất Phật. Họ không đủ điều kiện để đến Ấn Độ hay Tây Tạng chiêm bái, chỉ mong rằng có thể đến được Yên Tử mà thôi.
“Hiện công ty bọn cháu vẫn chưa mở tour chuyên về Yên Tử. Có nhiều lý do lắm cô ạ. Phần vì hệ thống cáp treo ở nơi đó vẫn đang trong thời gian xây dựng. Phần khác là vì mạng lưới các dịch vụ liên thông, như nơi ăn, chốn ở chẳng hạn, vẫn còn nhiều bất cập. Chùa Hương ở Hà Nội cũng là một địa điểm được nhiều người ưa chuộng, hay như chùa Bái Đính ở Ninh Bình, chùa Dâu ở Bắc Ninh. Đó là nói về miền Bắc, còn trong Nam người ta vẫn thường đi chùa Bà Đen ở Tây Ninh, chùa Thiên Hậu ở Bình Dương, xa hơn chút nữa còn có Đại Tùng Lâm ở Vũng Tàu. Những nơi đó công ty bọn cháu đều có tour trọn gói hết cả, cô có muốn tham khảo thử không? Vì sao cứ nhất thiết phải là Yên Tử hở cô?”
Cô thư ký của phòng du lịch nội địa nơi cô theo làm, có lẽ đã không nén được sự hiếu kỳ của mình nữa. Dù giọng nói vẫn nhẹ nhàng và thái độ vẫn lịch sự trong chừng mực, thì sự dò hỏi cũng đã lộ ra, một cách thành thực và tò mò.
“Cháu không biết sao?” Cách nhau một chiếc bàn thấp, vị khách mỉm cười, giọng nói mỏng đến mức một số âm gần như không thể nghe rõ. “Trăm năm tích đức tu hành, chưa về Yên Tử chưa thành quả tu.”
Khi ấy, cô đang vạch ra những bước phác thảo đầu tiên cho tour Mừng Tuổi Mẹ nhằm đón đầu thị trường mùa Vu Lan rằm tháng 7 sắp tới đây. Gian sảnh rộng hơn 20 mét vuông chứa đầy những con người trẻ tuổi hoặc dán mắt vào máy tính hoặc say mê bấm điện thoại một mình. Bàn tiếp khách không câu nệ gì mà đặt ngay giữa lối vào phòng. Còn căn phòng sang trọng, với rèm buông và màn che, nằm ở phía cuối sảnh, chỉ những đối tác quan trọng và giàu tiềm năng hơn người mới được vinh hạnh bước vào. Trong đủ thứ tiếng ồn của loa máy tính, nhạc chuông điện thoại, tiếng gõ phím lách cách, tiếng bấm bút bi tanh tách, tiếng dép đi nhà lệt xệt qua lại, chẳng hiểu vì sao câu nói ấy lại vọng đến tai cô một cách rõ ràng đến thế. Cây bút chì 2B đang lướt nhanh trên mặt giấy bất thần khựng lại. Cô ngẩng đầu nhìn lên, thấy xa xa, thấp thoáng sau rừng sắc màu rực rỡ của đủ loại quần áo thời trang của người qua kẻ lại trong phòng, một màu áo nâu sòng giản dị đến đơn sơ.
Cô nhìn thấy. Sau câu trả lời đó, trước dáng cười bối rối và khó hiểu của cô thư ký, vị khách không nói gì thêm, chỉ đứng lên, chào tạm biệt rồi ra về. Vẫn nụ cười thoảng nhẹ trên môi như lúc ngâm nga hai câu thơ đó, nhưng trong dáng vẻ của người Phật tử ấy, lúc rời đi, đã có điều gì đó như là thấu suốt. Dường như, phải nói quá nhiều và giải thích quá cặn kẽ về đức tin của mình ở một nơi xô bồ, nhuốm màu hồng trần như nơi đây là một việc quá sức đối với bà. Hai câu thơ lục bát chỉ vỏn vẹn 14 chữ, nhưng con đường mở ra phía sau chúng, những tầng mây trắng rộng thênh thang, phải chiêm nghiệm đến khi nào mới có thể hiểu ra?
Cô cảm thấy vị khách khi đến không hề mang theo một tia hy vọng nào, vì thế lúc rời đi cũng chẳng hề có cảm giác thất vọng. Thái độ đạm nhiên trước sau như một từ lúc xuất hiện đến khi biến mất của bà, rất dễ khiến người ta tin rằng, cuộc thăm hỏi ngắn ngủi giữa bà và cô thư ký vừa rồi, chỉ là một phút ngẫu hứng rẽ vào giữa cuộc đi dạo buổi chiều mà thôi. Vốn định một đường đi thẳng đến Yên Tử, nhưng nửa chừng vì nghĩ rằng có lẽ có một con đường nào khác ngắn hơn và nhanh hơn, bà mới dừng lại xem thử thế nào.
Kết quả là không được. Quả nhiên là không được.
Vì chẳng có con đường nào như thế, tồn tại trên đời này.
Nhưng có một điều mà cô nghĩ mình có thể tin tưởng. Đó là bằng một cách khác, vào một thời điểm khác, chắc chắn người Phật tử ấy sẽ đến được với Yên Tử. Chuyến đi đó, vốn chỉ là chuyện sớm muộn với bản thân bà mà thôi.
Còn cô, cô muốn đến Yên Tử để làm gì?
Một kẻ từng tin bản thân mình vô thần như cô đến với ngọn núi linh thiêng ấy để tìm kiếm điều gì?
Cô không biết, cô chỉ là muốn ngủ lại một đêm trên ngọn núi ấy.
Muốn ngắm khuôn mặt từ bi của Đức Thích-ca, muốn ngắm dáng vẻ bình hòa của một con người vĩ đại đã nhìn thấu và hiểu rõ mọi khổ đau của người đời. Từ đó hiến mình cho Phật pháp, hóa thành con đường sáng, soi tỏ những lầm than. Nhưng cô cũng tự hỏi với một đấng thánh nhân có nhiều điều lớn lao để truyền dạy và hóa giải như thế, thì tâm tư bất an của một cô gái tuổi 24 như cô, đặt ra trước mắt Ngài, có phải là vụn vặt và tầm thường lắm hay không?
.
18.
Buổi sáng ngày thứ tám cô đến Hội An, một cậu nhóc trạc chừng bảy tuổi đứng lấp ló bên ngoài cổng rào của Rose Garden vào lúc 6 giờ sáng.
Dư âm của đêm nhạc tối qua khiến cô ngủ say hơn thường lệ. Giấc ngủ trắng bạch một màu, êm ái và lặng sóng, hệt như đại dương buồn mùa đông. Khi cô tỉnh lại, dù đồng hồ mới chỉ 5 giờ hơn nhưng vẫn có cảm giác như mình đã ngủ một giấc dài nhất trong đời. Từ bên ngoài vẳng vào bầu không khí chộn rộn nhưng trong trẻo quen thuộc của nhịp sống Hội An. Cô xuống giường, dùng tay vuốt sơ qua mái tóc rối, rồi bước lại cửa sổ nhìn ra bên ngoài. Ngoài hàng hiên, bóng nắng chỉ vừa bò đến chỗ góc tường và những chiếc lá cây in trên nền gạch tối những cái bóng nghiêng nghiêng như run rẩy. Cô đưa mắt nhìn ra xa hơn. Tiếng lục đục trong gian bếp bên trái giúp cô đoán ra chẳng ai khác hơn ngoài ông chủ nhà đang bận rộn với việc pha ấm trà sáng như mọi khi. Còn người vợ giờ này có lẽ vẫn đi chợ chưa về. Cô ra sau vườn đánh răng, cột túm mái tóc dài vướng víu bằng một dây vải thun rồi ra ngồi trên chiếc phản gỗ trước nhà.
Ngày nào cũng thế, dù có chạy xe xuống biển Cửa Đại đi chăng nữa, cô vẫn luôn quay về trước lúc người phụ nữ ấy trở về từ phiên chợ sáng. Chiếc phản gỗ cũ kỹ lên nước bóng loáng một màu nâu đất này từ mấy ngày qua đã trở thành chỗ ngồi quen thuộc của cô vào mỗi buổi sớm mơ. Ở nơi đây, cô có thể ngồi xếp bằng theo một động tác yoga đơn giản nào đó, hoặc thoải mái hơn, duỗi thẳng chân và đung đưa chúng tùy thích. Rồi cứ thế mà chờ, chờ mãi, cho đến khi bóng nắng im ắng trải dài trên con ngõ nhỏ bỗng nhiên lay động, bầu không gian yên ả cũng bị đánh vỡ bởi tiếng bước chân và cái dáng tròn người phúc hậu. Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi và thoáng qua, nhưng cô đã có thể nương nhờ vào nó để nhớ đến mẹ.
Mẹ từ ngoài cổng đi vào, cười rất tươi với bố. Trước đó một tuần, nhà nhận được cuộc điện thoại phương xa của cô con gái thứ. Chẳng biết họ nói gì với nhau. Chỉ biết, hôm nay là ngày cô con gái về thăm, và mẹ thì đã ra chợ từ sớm để chọn mua món cá tươi ngon nhất, nấu món canh chua măng yêu thích nhất của cô.
Sao lúc nào mình nhìn đến, cũng thấy mẹ đang bận rộn thế nhỉ? Nếu không phải giặt giũ chăn gối nhân con nắng đẹp thì cũng phơi phóng này kia đến xế trưa mới thôi. Tủ bếp trong nhà bao giờ cũng đầy ắp những hủ keo đựng đầy các loại dưa chua, chanh muối, tắc đường, tỏi ngâm, củ cải mặn, rượu chuối hột… do một tay mẹ làm. Chẳng thế mà có lúc nào thấy mẹ ngơi tay? Hết xắt dưa lại đến lăn chanh, hết gọt trái tắc lại bóc vỏ tỏi, hết cắt củ cải lại giã nước thuốc ngâm chuối. Ấy là chưa kể những khi nhà sắp sửa đến dịp giỗ quảy, mẹ thể nào cũng lôi hết chén, bát, tô, đĩa, trong kệ bếp ra dọn rửa lại lần nữa. Buổi chiều hôm trước đã vội vã đi chợ mua cho bằng hết những món phụ gia và gia vị lặt vặt cần thiết. Chợ sáng ngày hôm sau vẫn lại thức dậy sớm để mua được phần thịt, cá đúng như ý mình.
Những công việc ấy cứ kéo từ ngày qua tháng, từ tháng qua năm. Mùa xuân khí trời nóng ẩm, mùa hạ mưa nhiều nắng gắt, mùa thu gió se se nắng hanh hanh, mùa đông đi cùng tháng chạp chỉ khiến việc phải lo càng nhiều hơn ra so với những thời gian khác. Trong lúc cô đi từ thành phố này sang thành phố khác, gặp gỡ, chuyện trò, yêu đương, trốn chạy, đau khổ, thất vọng, thì mẹ vẫn ở mãi nơi đó, sống âm thầm cuộc đời từ rất lâu đã không còn thuộc về riêng mình.
Cô cảm thấy mọi việc rất lạ lùng, khi nghĩ lại lúc mình vẫn còn là một thai nhi đỏ hỏn, bé xíu, dần dần tựu hình và lớn lên lặng lẽ bên trong lòng mẹ. Nhưng giờ đây, ở dưới ánh mặt trời, cô độc lập và tươi mới như bất kỳ một con người nào khác.
Bao nhiêu thời gian đã đi qua trên mẹ?
Bao nhiêu năm tháng đã đi qua trên cô?
Thế nhưng, trong cuộc đời mình, người đầu tiên cô lên tiếng bảo rằng yêu, lại là một người con trai xa lạ nào đó chỉ vừa gặp gỡ và quen biết nhau chưa đến một năm dài, chứ không phải là mẹ.
Làn gió buổi sớm mơn man lướt qua làn da để trần trong chiếc áo vải ngắn tay của cô. Chậm rãi mở mắt ra, ngẩng mặt nhìn lên, cô nhận ra nữ chủ nhân của Rose Garden đã trở về từ phiên chợ sáng và đứng trước mặt mình từ lúc nào. Một tay bà xách chiếc giỏ nhựa đựng đầy thức ăn, tay còn lại dắt tay một đứa bé trai đầu bù tóc rối. Cả hai người họ đều đang nhìn về phía cô và mỉm cười. Nụ cười của bà phúc hậu, thấu suốt. Nụ cười của đứa trẻ ngây ngô, hiếu kỳ.
Cô cũng khe khẽ mỉm cười đáp lại họ, theo thói quen lại đưa tay vén những sợi tóc lòa xòa bên tai. Trong lúc ấy, người phụ nữ quay sang nói với đứa trẻ, “Người cháu cần tìm có phải là cô khách này hay không?”
Đứa bé đáp lại bằng một giọng rụt rè, trước đó còn len lén nhìn lại cô lần nữa: “Cháu… không biết nữa ạ, có một chú kia đưa cho cháu phong thư, bảo cháu mang hộ đến cho cô khách đang trọ lại ở nhà bà, rồi…rồi chỉ đường cho cháu đến đây.”
Nói xong, nó kéo vạt áo lên, cẩn thận lấy ra một phong thư màu trắng chìa ra cho cô và bà chủ nhà cùng xem. Bên ngoài bì thư chỉ có hai chữ được viết bằng màu mực xanh rất đậm.
Gửi Nhã.
Trước khi kịp nói bất cứ điều gì, cô đã nghe thấy tiếng kêu lên đầy vui vẻ của người phụ nữ bên cạnh. “Đúng thế rồi còn gì, cô khách đây cũng tên là Nhã đấy cháu ạ.”
“Thật thế hở bà?” Đứa bé ngẩng phắt lên, vẻ lo âu mới phút trước đã biến mất, thay vào đó là một sự vui mừng hiện rõ ra trên mặt. Cứ như với nó, nhiệm vụ đưa thư đơn giản kia, lại chính là một trong những chiến công của đời mình. Nhìn đôi mắt lấp lánh như cười của cậu bé, cô bất giác cũng cảm thấy vui lây. Đưa tay ra nhận phong thư, cô nói dịu dàng với nó. “Chị đúng là Nhã đây, chị đã nhận được thư rồi, cám ơn em nhiều lắm.”
Nó lại cười toe toét thêm lần nữa. Nụ cười khoe ra màu hồng hồng của lợi, vì chỉ có mỗi hai chiếc răng cửa to nằm chơ vơ ở hàm trên. Cô không vội đọc thư ngay, chỉ ngồi đó nhìn theo thằng bé. Nhìn theo khi nó được bà chủ nhà gọi vào bếp, nơi nồi khoai luộc ban sáng đã chín tới và bốc ra mùi thơm lừng khắp nơi nơi. Nhìn theo khi nó vui vẻ bước ra khỏi đó, vừa xuýt xoa kêu nóng vừa kéo cao hai vạt áo buộc chặt, bên trong là những củ khoai no tròn nóng bỏng tay, nằm yên ngoan ngoãn như một đàn lợn con. Nhìn theo khi nó nhảy chân sáo trên con ngõ nhỏ rồi chẳng mấy chốc sau đã biến mất ngoài cổng rào, nơi gió đang rì rào, nắng đang rập rờn và cây lá đang lao xao như một ngày hội lớn của đất trời sắp đến.
Cô mở thư bằng cách xé ngang miệng phong bì và dốc nó ra tay. Ngoài một mảnh giấy trắng gấp tư có in logo của khách sạn ở góc dưới, còn có một dải lụa màu lam nhạt rơi ra tay cô.
Trong thư anh viết,
“Có thật là bức thư này sẽ đến được tay em? Có thật là em đã đến Hội An và chỉ chốc nữa thôi anh sẽ được gặp lại em sau ba năm xa cách? Có thật là em đó không, Nhã? Anh vui mừng quá, anh thật sự là vui mừng quá. Những ngày tháng dài nhất của cuộc đời anh rốt cuộc cũng đã trôi qua rồi…”
Cô gấp lại lá thư, bỏ ngay ngắn vào lại bì thư như lúc ban đầu. Sau đó, cô cởi bỏ dây vải thun trên tóc và thay vào đó dải lụa vừa nhận được từ anh. Vào lúc đó, một tiếng đập cánh tan tác bất thần vang lên, và từ phía cuối vườn bụi trúc đào bỗng rung lên dữ dội. Cô không ngoái nhìn lại, chỉ xỏ chân vào dép, đi thẳng ra phía những vại nước bên hàng rào. Soi mình vào đó, thật cố gắng xoay người để trông thấy được dải lụa màu xanh. Nhưng đáp lại, trên mặt nước im ắng thi thoảng loang ra một vòng sóng nhẹ, chỉ có một cô gái điềm nhiên nhìn lại cô.
Vầng trán trắng, chân mày cong, bờ môi nhạt.
Cánh mũi khẳng, gò má gầy, đôi mắt sâu.
Chợt nhận ra, đã lâu lắm rồi mới có dịp ngắm lại mình kỹ càng đến thế.
Gương mặt của cô.
Chân dung người con gái anh đã từng yêu.
.
19.
Em biết, anh sẽ đến gặp em.
Người thanh niên dịu dàng giống như một giấc mơ.
Em đã biết, rằng anh sẽ đến.
.
20.
Cô đã ngủ một giấc trưa rất dài vào ngày họ hẹn gặp nhau. Không còn bất cứ âm thanh hay hình ảnh nào quấy nhiễu, giấc ngủ đột nhiên yên tĩnh như thể biết rằng thời gian lưu lại ở nơi đây đã không còn nhiều nữa.
Khi thức dậy, cô ra sau vườn rửa mặt. Những chiếc chum to đựng nước đã mốc rêu xanh um ở phần bụng. Chiếc vung bằng đất nung nặng tới mức cô phải dùng cả hai tay mới có thể nhấc nó lên. Nước bên trong mát lạnh và trong veo. Nếu nhìn thật kỹ sẽ thấy có những con bọ gậy nhỏ và xám đen như những cái que nhỏ đang búng mình loăng quăng bên dưới đáy chum. Cô múc một gàu to đầy những nước, xối thẳng lên đôi bàn chân trần, sau đó vấy khắp mặt, cổ và tai. Bóng nắng treo nghiêng trên đỉnh khóm trúc đào ở cuối vườn. Cùng với tiếng chiêm chiếp yếu ớt, một chú gà con lạc mẹ ngơ ngác chui ra từ khe hở dưới chân hàng rào. Cô đoán nó từ vườn nhà bên đi sang, có lẽ đã bị bầy bỏ lại trong lúc dẫn nhau đi tìm mồi.
Sau khi đã tỉnh táo hẳn, cô trở vào phòng, thay một bộ quần jeans áo phông đơn giản. Dặm qua một lớp trang điểm nhẹ, búi tóc thành một búi cao sau gáy, rồi rời khỏi Rose Garden, đến khách sạn Đông Đô tìm anh.
Trên đường đi trông thấy vài du khách nước ngoài đang bát phố buổi chiều quanh khu phố cổ. Đêm 14 Âm lịch, các hiệu may và cửa tiệm bán đèn lồng cũng đã dọn hàng ra từ sớm. Tiếng máy may kêu xạch xạch liên hồi, những chiếc đèn lồng đủ màu sắc, đủ chất liệu, đủ kiểu dáng, treo thành một hàng dài bên dưới mái hiên, xoay mình thẩn thơ trong gió.
Khi đi ngang qua, bị cảnh tượng vui mắt đó lôi kéo sự chú ý, cô không nén nổi tò mò mà bước vào bên trong xem thử. Chỉ thấy những chiếc đèn lồng xếp thành cuộn dài hệt như những chiếc ô, chất đầy trên những kệ dài, cao đến tận xà nhà. Đèn hoa sen, đèn lá trúc, đèn quả hạnh, đèn phòng khách, đèn phòng ăn,… Cô đếm nhẩm qua cũng có đến hơn 10 loại đèn với tên gọi và công dụng khác nhau. Một tấm bảng to trưng ra giữa gian tiệm, trên đó là các bước hướng dẫn rất tỉ mỉ và cẩn thận về cách thức mở đèn. Xem qua hết một lượt, cô bước ra ngoài sau khi để lại một nụ cười đầy vẻ áy náy với cô nhân viên ở quầy thu ngân.
Ánh sáng vàng trong của buổi chiều nói cho cô biết tiết trời hôm nay tuyệt diệu không gì có thể sánh bằng. Nhận được sự cổ vũ từ ánh nắng, bước chân cô trở nên phấn khởi hơn và tâm trạng cũng khoan khoái lạ khi đi nhanh qua những dãy phố để đến với khách sạn Đông Đô.
Cậu nhân viên bảo vệ gật đầu chào một cách lễ phép và mở cửa cho cô bước vào. Gian tiền sảnh không quá rộng lớn nhưng phong cách bày trí ấm cúng và nhã nhặn. Một chùm đèn lồng mảu đỏ trầm treo ngay giữa trần nhà, kết cấu phức tạp và bắt mắt, trông như một đám lửa cháy đượm đang ra sức sưởi ấm cho những con người hối hả qua lại bên dưới. Cô đến quầy lễ tân, nhờ họ nối máy cho vị khách ở phòng 207. Chờ chừng ba phút, đầu dây bên kia đã vang lên giọng nói của anh.
Cô nói. “Bây giờ anh có rỗi không? Em đang đứng ở đại sảnh khách sạn, sẽ chờ anh ở bên ngoài. Có một nơi em muốn đưa anh đến, một nơi mà em đặc biệt yêu thích ở Hội An này.”
“…Anh sẽ xuống ngay.” Cô nghe thấy một sự ngạc nhiên mơ hồ thoáng qua giọng nói của anh. Nhiều hơn thế nữa là sự xúc động khiến anh không thể nói thêm gì khác. Chỉ một câu ngắn ngủi như thế rồi buông máy ngay. Cô không cười khi đặt ống nghe xuống, chỉ cảm thấy đâu đó trong lòng chợt nhói đau. Thì ra thói quen của một người, có thể khó thay đổi đến thế. Thì ra những điều đã đọng thành ký ức, có thể khó phai nhòa đi đến thế.
Nhân viên lễ tân mỉm cười gật đầu chào khi cô cám ơn họ và rời khỏi nơi đó. Cậu nhân viên bảo vệ vẫn lịch sự mở giúp cửa cho cô.
Cho đến giờ phút đó, khi đã đánh cắp được của anh buổi chiều này, cô vẫn không hề biết mình sẽ đưa anh đi đâu. Hội An tuy nhỏ bé nhưng mấy ngày qua sau khi quen dần, cô đã trở nên rất yêu thích nơi đây. Thậm chí cô biết mình sẽ nhớ nó nhiều khi mai kia đi khỏi. Nhưng ngay lúc này, cô có một người thanh niên. Người thanh niên đã bằng lòng đi theo cô, đã đến thị trấn nhỏ bé này vì cô, vẫn còn gọi tên cô thân thiết như lúc họ mặn nồng bên nhau.
Hoàng hôn rơi xuống nhanh hơn cô nghĩ. Tòa khách sạn bảy tầng phủ một bóng râm hiền lành trên mặt đất. Cô quay lưng về phía nó, nhìn cả khu phố cổ như một tấm lụa cũ kỹ trải ra trước mắt mình.
Cô lại chờ anh, như bao ngày qua, như từ lúc gửi đi lá mail 16 chữ ấy, cô đã chờ.
.
21.
“Ba năm qua em đã đi những đâu?”
“Em vẫn ở Sài Gòn, dọn nhà đến một nơi khác, xin việc ở một công ty khác. Em vẫn làm lữ hành, vẫn chạy đi chạy về giữa các thành phố vì công việc. Nhưng em đã đến Yên Tử ngay sau khi xa anh, đó là chuyến đi duy nhất của em trong ba năm qua.”
“Anh đã tìm em mãi, sau cùng mới hiểu ra, cô gái ấy đã quyết định sẽ biến mất khỏi cuộc đời anh rồi.”
“Là chúng ta cùng biến mất khỏi cuộc đời nhau.”
Khi đó, họ đang đứng cùng nhau trên cầu Chùa. Cầu Chùa, hay Lai Viễn Kiều, hoặc Cầu Nhật Bản. Những cái tên khác nhau, gợi lên những cảm giác khác nhau. Lai Viễn Kiều mang đậm màu văn hóa Trung Hoa, cầu Nhật Bản vì dựa vào kiến trúc mang nhiều nét ảnh hưởng mà ra, còn cái tên cầu Chùa mộc mạc dân dã ngày nay người người đều gọi cũng chẳng hiểu vì đâu mà có. Nhưng dù có gọi bằng bao nhiêu cái tên đi nữa, chiếc cầu cổ vẫn chỉ có một.
Trước đây mấy hôm, trong một buổi chiều rơi giống như hôm nay, cô đã một mình đứng ở nơi đây chờ anh. Bây giờ, đã có anh bên cạnh, nhưng sao cảm giác hoài mong trong tim cô vẫn không hề vơi đi? Dường như năm tháng đã chất lên nhịp cầu này một nỗi nhớ nhung khôn nguôi của những người từng sống. Thời gian trôi đi, vật đổi sao dời, người đến kẻ đi, duy chỉ nỗi nhớ là ở lại, dần trở thành một gánh nặng khiến nhịp cầu nặng trĩu.
Giờ đây, cô mới hiểu vì sao mình luôn cảm thấy buồn khi nhìn đến bất cứ nơi nào, khi đi qua bất cứ nơi đâu ở vùng đất này. Cô đã hiểu, nỗi nhớ dài thăm thẳm trong tim cô, từ lúc bước chân vào phố Hội, cũng đã bắt rễ ăn lan cùng dòng hoài niệm rất cũ ở nơi này. Vì thế, rất đáng buồn, nhưng sự có mặt của anh ngay lúc này, cũng không gì khác hơn nhịp cầu kia. Một là kỷ vật bị thời gian đánh rơi khi đi qua, một là người cũ bị bỏ lại khi tình yêu trôi xa.
“Em đã đến Quảng Ninh, đã hỏi thăm đường lên núi Yên Tử, và đã đến đó đúng dịp lễ Phật Đản diễn ra. Đường vào đất Phật hai bên đều là nhà dân. Từ khi Yên Tử nổi danh là một chốn thanh tu trong giới du lịch tâm linh, cơ hội phát triển kinh tế cũng mở ra cho người dân mộc mạc ở nơi đó. Đường sá đều đã được san bằng, trải nhựa, cột cây số cứ cách quãng lại thấy, biển chỉ đường cứ đến ngã tư đường sẽ gặp. Xe khách, xe du lịch 50 chỗ, xe ô tô gia đình, cả những đoàn xe máy chở đầy các cô, cậu thanh niên. Tất cả đều góp mặt, vui tươi và hứng khởi làm sao trên đường đến với Yên Tử.”
“Em tìm gì ở ngọn núi đó?”
“Em đi tìm dấu chân của Đức Thích-ca. Em muốn một lần được ngắm khuôn mặt của ngài. Em muốn được nhìn thấy dung nhan bình hòa của con người đã để lại dấu ấn cùng học pháp của mình ở khắp nơi trên lục địa Châu Á của chúng ta. Nhưng em đã lầm, Yên Tử là cái nôi của Thiền tông Việt Nam, dù cùng một gốc rễ nhưng nó kể những câu chuyện rất khác với điều em đang tìm kiếm. Khi leo hết 79 bậc thang lên đến chùa Hoa Yên, đứng bên cây đại thụ 700 tuổi rợp bóng, em mới nhận ra mình ngu ngốc đến thế nào. Cũng không hiểu vì sao lại thế. Em đã nghĩ về Yên Tử như một kẻ chấp mê. Và từ đó đã đến với Yên Tử như một kẻ vô tri. Nhưng như thế cũng tốt, em sẽ không mù quáng tin vào bất cứ điều gì. Chính sự tuyệt vọng thuần khiết nhất sẽ giúp em đến gần Đức Thích-ca hơn, dù tâm tư của em chỉ là một cánh đồng trắng xóa, nơi chẳng vụ mùa đức tin nào có thể gieo cấy nên.”
“Nếu em muốn, anh đã có thể đi cùng em. Nhưng em lại chẳng nói gì, chỉ lẳng lặng rời xa anh, bỏ anh mà đi. Anh thật sự không thể hiểu được em đã nghĩ gì khi đó?”
“Anh thân yêu ơi, em đã nhìn thấy anh làm dấu thánh giá trước mỗi bữa ăn. Và anh cũng đã từng đưa em đến nhà thờ, cùng nhau ngắm nhìn gương mặt buồn thanh thản của Đức Chúa Giê-su khi treo mình trên cây thập giá đầy những đinh nhọn và lời sỉ vả của loài người. Dù Đức Thích-ca và Đức Chúa Giê-su chẳng ai truyền dạy cho môn đệ của các ngài rằng, phải bài trừ và xa lánh những kẻ có niềm tin và suy tưởng khác ta, thì như một lẽ tự nhiên nhất, thế nhân, những kẻ vì lầm than và tuyệt vọng mà tìm đến các ngài, vẫn không thể cùng ngồi ngồi và kể cho nhau nghe về đời sống nội tâm của mình. Mà chúng ta, anh và em, chỉ là hai con người nhỏ nhoi trong lớp hậu nhân muôn đời sau của thế nhân ấy. Không thể được, không thể được đâu anh ơi.”
Đó cũng giống như một đôi tình nhân tuyệt đối sẽ tránh kể cho nhau nghe về người yêu trước của mình. Không phải vì không tin vào sự chân thành và độ lượng của đối phương, chỉ vì lòng người là giấy, mỏng manh và yếu ớt biết bao nhiêu. Tổn thương đã xảy ra, dù có an ủi và xoa dịu bằng cách nào đi nữa, cũng mãi mãi đã từng xảy ra.
Họ đi qua dãy trung tâm của khu phố cổ.
Buổi chiều rắc màu vàng tươi tắn lên gương mặt cũ kỹ của Hội An. So với lúc cô đến khách sạn Đông Đô tìm anh, người trên đường lại nhiều hơn chút nữa. Đêm 14 Âm lịch dường như là thời khắc phố Hội trở nên đáng yêu nhất. Mọi thứ đều trở nên đáng mến hơn rất nhiều.
Những cửa hiệu bày đầy các món đồ thủ công mĩ nghệ nho nhỏ, xinh xinh. Những hàng quán đặc sản rộn rã tiếng nói cười. Người qua kẻ lại chìm trong những thế giới riêng tư và tách bạch. Vẫn như lúc chiều, những chiếc đèn lồng treo bên dưới mái hiên mờ tối, đón gió thổi qua, xoay mình thơ thẩn. Hình ảnh ấy một lần nữa hiện ra trước mắt cô, cảm giác thân thiết hệt như mỗi sớm vẫn đứng bên hàng hiên nhìn ra khoảnh sân nhỏ trước nhà. Một góc trời đang hé ửng. Những tàng cây ướt sương. Và những tiếng lao xao rì rào màu xanh thẫm, chỉ thuộc riêng về ban mai.
Con đường dường như ngày càng mở ra như một con dốc thoai thoải. Cô cảm thấy được điều đó từ sự nhẹ hẫng của những bước chân, và cả cơn gió ngược chiều từ xa thổi đến, kéo những sợi tóc lòa xòa về phía sau, như những cánh chuồn chuồn bay phất phơ ngược gió. Ở bên cạnh, thảng khi anh vẫn nhìn về phía cô. Ánh nhìn ấy đọng lại bao lâu, chứa bao nhiêu ý nghĩa, cô thật sự không muốn đoán biết. Chỉ nghĩ, nếu là ba năm trước, anh đã chẳng ngại ngần gì mà nắm lấy tay cô. Chỉ biết, nếu là ba năm trước, cô cũng đã chẳng ngượng ngùng gì mà khoác lấy tay anh.
Từ xa đã nghe thấy tiếng xạch xạch của máy may đang chạy, bóng các cô thợ loay hoay bên bàn cắt và những xấp vải đủ màu cao ngất. Cô lại bỗng nhớ đến mẹ trong lúc đó, thầm nhủ, khi nào về sẽ nhờ người may tặng mẹ một bộ áo lụa thêu hoa. Vải lụa mềm mượt và mát mịn, mặc lên người, cảm giác cũng thanh tân và nhẹ nhàng hơn.
Con đường này, cứ đi mãi, đi mãi, cuối cùng sẽ đến được nhà cổ Phùng Hưng.
“Anh có biết một trong những nơi đáng phải ghé thăm nhất của Hội An là nơi nào không?”
“Anh biết du lịch, lữ hành là cái nghiệp của em. Đừng đánh đố anh nữa.”
“Chúng ta đang đi đến đó đấy.”
“Anh thật sự rất chờ mong. Nó cũng giống như sân khấu kịch 5B phải không? Một nơi là em đặc biệt yêu thích ở Sài Gòn, còn một là ở Hội An.”
“Anh vẫn chưa quên rạp hát nhỏ đó sao?”
“Tại sao anh phải quên đi chứ? Có những thứ không nhất thiết phải quên, ngay cả khi một cuộc tình đã tan vỡ. Đó là nơi anh và em đã gặp nhau lần đầu tiên, là nơi câu chuyện của chúng ta đã thật sự bắt đầu. Bao nhiêu thời gian của chúng ta đã bị nơi đó lấy đi mất, anh cũng không còn nhớ. Chỉ biết, có nhắm mắt lại anh vẫn có thể tìm được đến nơi chúng mình hay ngồi. Làm sao có thể quên?
Ba năm qua, anh vẫn đến đó hai tuần một lần. Anh đến để xem kịch, anh đến để vui, buồn, anh đến để nhớ em. Đôi khi còn nghĩ, có thể nào chuyện của hai ta cũng giống như một cảnh trong phim? Một ngày nào đó, khi anh đang ngồi một mình ở nơi đó, cô đơn và buồn rượi, em sẽ đột nhiên xuất hiện, không nói không rằng, chỉ im lặng ngồi xuống bên anh. Cả hai chúng ta đều không ai nói gì cả, cũng chẳng hề quay đầu nhìn nhau, chỉ lẳng lặng xem hết vở kịch trên sân khấu, rồi sau đó cầm tay nhau ra về. Về sau, anh thường xuyên ngủ thiếp đi ở nơi đó. Trong mơ, cảnh tượng ấy cứ diễn đi diễn lại trước mắt anh. Chân thực và sống động vô cùng. Đến mức, có lúc, anh đã tin là thật.
Không, là anh đã nguyện tin là thật.
Chỉ đến khi rạp tan, một mình đi giữa biển người mênh mông với những ngón tay trống rỗng, anh mới biết rằng đó chỉ là mơ.
Như thế. Làm sao anh có thể quên?”
Cô ngoảnh lại nhìn anh, cười nhẹ nhàng trong nắng. “Em biết. Là em đã nợ anh. Ba năm đó, là em đã nợ anh.”
“Anh nào có định tính toán gì với em? Nếu dây tơ hồng có thật trên đời này, anh biết mình cũng không thể dùng nó để trói chặt em. Anh biết em là một cô gái như thế nào.”
“Nhưng em cũng đã trả xong cho anh món nợ đó rồi.”
“Anh biết. Anh đã biết.”
Nhà cổ Phùng Hưng cuối cùng cũng hiện ra trước mắt. Từ con đường phía trước mặt, họ cùng trông thấy một người đàn ông trung niên chạy chiếc xe đạp thồ chở theo một đôi thùng to đang từ từ chạy đến. Sau lưng ông, mặt trời đã không còn trông thấy rõ. Gió mát thổi chậm, một con diều no gió lững lờ giữa tầng không. Khi chạy ngang qua chỗ họ, bánh xe sau vấp phải một hòn đá nhỏ, từ mép thùng dòng nước trong vắt sóng sánh đổ hắt ra ngoài. Nếu cô đoán không sai, đó là một người gánh nước thuê cho các nhà hàng cao lầu ở nơi này.
Họ dừng lại phía trước ngôi nhà, im lặng trong chốc lát, ngắm bóng dáng lừng lững của nó trong chiều hôm. Cửa lớn đã đóng kín. Hẳn nhà cổ đã kết thúc nhịp sống ban ngày của mình, đang trong những giây phút trầm mặc hiếm hoi, chờ khi đêm xuống, đèn lên, sẽ lại huyền hoặc hiện ra.
“Em đã từng đứng ở nơi này mười phút, chờ anh.”
“Vì sao?” Anh có vẻ ngạc nhiên thật sự. Cũng phải, anh có biết gì về giấc mơ của cô đâu.
“Đêm đầu tiên đến đây, em đã có một giấc mơ về anh. Trong mơ, anh đã cho người chuyển đến em lời hẹn. Hẹn em khi bình minh lên, vào lúc 5 giờ 20 phút, anh sẽ đợi em ở nơi này.”
Im lặng trong giây lát, rồi anh bỗng cười.
“Hai chúng ta đều mơ thấy đối phương. Trong lòng hẳn là còn nhớ thương nhau nhiều lắm. Ngôi nhà này…” Anh ngừng lại, quay mặt nhìn về phía nhà cổ Phùng Hưng. “Anh hẹn em sớm thế là vì muốn ngắm mặt trời mọc cùng em hay sao? Hay trong mơ, chúng ta đã có một kế hoạch rõ ràng nào đó?”
“Em không biết, anh. Những giấc mơ có bao giờ rõ ràng đâu nào. Nhưng chúng chân thực, đúng không anh? Chúng phản ánh chân thực ước muốn và mong mỏi trong lòng chúng ta. Như anh đã nói, chúng ta đều mơ thấy nhau, trong lòng chúng ta vẫn còn nhớ thương nhau nhiều lắm. Thế nên, em đã tin, và anh cũng hãy tin đi, rằng em đã có lúc ước ao được gặp anh đến thế.”
“Anh biết. Anh biết.” Một bàn tay anh đưa sang, xoa nhẹ nhàng lên tóc cô. Bàn tay năm ngón của người thanh niên cao lớn. Anh giống như một thân cây đã nắng dãi mưa dầm. Đã từng là bóng mát che chở và bảo bọc cho cô. Nhưng thời gian đó đã trôi qua rồi.
“Em có muốn chụp một tấm ảnh không?” Anh hỏi, cùng lúc lấy ra chiếc máy nhỏ đeo ở bên người. Cô bước đến trước ngôi nhà, ngừng lại một lúc, sau đó bước hẳn lên những bậc tam cấp và đứng khuất trong vùng bóng râm của ban công tầng hai bên trên.
“Thế này… Anh không trông thấy rõ mặt em.”
“Phải đấy anh ạ, không cần phải trông thấy rõ em trong tấm ảnh kỷ niệm này. Anh chỉ cần nhớ mãi buổi chiều hôm nay mà thôi.”
Anh bấm máy, tiếng phim chạy rè rè vang lên. Trong ba năm qua, thói quen chỉ sử dụng máy cơ của anh vẫn không thay đổi. Như thế cũng hay, sẽ không thể xem lại tấm ảnh ngay khi vừa chụp xong. Dưới ánh sáng ban ngày, mọi thứ đều được phủ lên một lớp vỏ tươi mới và rộn ràng. Nhưng trong phòng rửa ảnh đầy bóng tối, bóng dáng cô sẽ dần dần hiện ra trước mắt anh. Từng chút, từng chút một.
“Anh có nghe thấy tiếng gió không? Cả tiếng lao xao của sóng vỗ? Anh có nghe thấy biển đang gọi không?” Cô hỏi anh ba câu liên tiếp. Mắt cô long lanh khi nhìn thẳng vào anh, môi cô hơi hé cười, và ráng chiều nhuốm một màu hồng ưng ửng lên đôi má cô. Anh nhìn người con gái đứng trước mặt mình. Anh biết, ngay lúc này dù anh có cúi xuống hôn cô cũng sẽ không gặp phải khó khăn nào. Nhưng nụ hôn của anh dù vẫn nồng nàn và say đắm như năm ấy, thì người con gái của năm xưa cũng đã không còn. Thời gian đã lấy đi của họ mọi thứ, đồng thời chỉ trao lại một thứ duy nhất. Cuộc hẹn cuối, giữa anh và cô.
Cũng như trong giấc mơ hôm đó, cô chỉ chờ anh 10 phút. Sau 10 phút, cô nắm lấy tay anh, kéo anh cùng chạy về phía biển Cửa Đại.
“Hoàng hôn rơi nhanh quá, hệt như lúc ấy, nó sắp lấy mất của chúng ta mọi thời gian còn lại rồi. Chúng ta phải chạy thôi, anh ạ. Chúng ta phải chạy thôi.”
Chặng đường dài 5 cây số. Bóng chiều bảng lảng lúc gần lúc xa. Tiếng gió thổi âm âm bên tai họ. Cát trắng mềm mại và dịu dàng trải mình ra đón bước chân họ. Mây xám bay ngang, trong im lặng đồng hành cùng họ suốt quãng đường ra biển.
Cửa Đại ở đích đến, hướng về phía họ ánh nhìn thấu suốt và thẳm sâu của biển.
Chúng ta phải chạy thôi, anh ạ. Chúng ta phải chạy thôi…
Cô biết rằng mọi thứ ngay lúc này đây rồi sẽ kết thúc. Tất cả những gì họ lưu lại cho nhau chỉ là ký ức đẹp đẽ nhưng mong manh như ánh sáng đom đóm trong những đêm hội hè. Thanh xuân không phải một quãng thời gian có thể tính bằng năm hay tháng. Trong mỗi đời người, nó chỉ là những điểm ảnh chiết ra từ những giây phút an nhiên và chìm đắm nhất của họ. Cũng không thể tận hưởng, chỉ có thể nắm bắt từng phút, từng giây. Luôn có nỗi buồn đi cùng với nó, nỗi buồn vì không thể tồn tại bất biến theo thời gian, nỗi buồn vì chỉ có một, tuổi thanh xuân của riêng mỗi người.
Vì thế, cô nắm lấy tay anh, bảo rằng, Chúng ta phải chạy thôi, anh ạ. Chúng ta phải chạy thôi.
.
22.
Nhưng vĩnh viễn cũng không thể đến được Cửa Đại.
Cơn mưa rào giữa hạ bất thần trút xuống khi họ vừa rời khỏi nhà cổ Phùng Hưng không bao xa.
“Em ạ, mưa như thế này chốc nữa sẽ có cầu vồng sau khi tạnh đấy.” Anh quay sang nhìn cô bằng gương mặt ướt đẫm nhưng rạng rỡ nụ cười.
“Anh không ngại bị ướt chứ?” Cô mỉm cười ái ngại nhìn bộ dạng chỉn chu ban đầu của anh trong chiếc quần âu và áo sơ mi trắng giờ đây đã xộc xệch và nhòe nhoẹt trong mưa.
“Em còn muốn đưa anh đến nơi nào nữa sao?”
“Biển thì chúng ta không thể ra được nữa rồi.”
Im lặng một lúc, anh bỗng hỏi. “Em có muốn về không?”
Cô nhìn anh một lúc lâu. “Em hiểu anh nghĩ gì. Chúng ta vẫn còn cuộc hẹn tối nay có phải không? Anh sẽ đến chứ?”
“Em vẫn còn điều gì chưa kịp nói với anh sao?”
“Anh sẽ đến chứ?”
“Anh sẽ đến.”
“Em chờ anh.”
Em chờ anh, em sẽ chờ anh. Trong bảy ngày qua, từ lúc đến Hội An, đã bao lần em chờ anh, chính em còn không nhớ nổi. Chỉ biết, em phải chờ anh. Nhưng sự chờ đợi qua một thời gian quá dài đã dần dần không còn liên quan gì đến anh nữa. Sự chờ đợi của riêng em, không bao giờ kết thúc, kể cả khi anh đã đến đây và ở thật gần bên em.
“Anh biết. Anh luôn biết.” Một nụ cười mơ hồ tỏa rộng trên môi anh. Có buồn thương, có quyến luyến, nhưng đồng thời cũng chấp nhận và thứ tha. Lần cuối cùng anh nhìn cô như thế là khi nào?
Cô đi trong mưa trở về Rose Garden. Khu vườn Hoa Hồng. Cái tên thật đẹp làm sao nhưng nơi đây lại chẳng có một cây hoa hồng nào cả. Chỉ có bụi trúc đào ngả nghiêng trong mưa, những đóa hoa đỏ thấp thoáng trong tàng lá thẫm nước. Chỉ có giàn mồng tươi leo hờ hững bên giậu rào. Những trái mồng tơi đen bóng, khi giã nhuyễn sẽ cho ra một thứ nước tím biếc như mực. Vì sao khi lên những lớp lớn hơn, bọn học trò không ai còn dùng màu mực tím đó nữa?
Vì sao luôn phải có những thứ buộc phải bỏ lại trên những chặng đường chúng ta đi qua?
Đến cuối cùng, là cô đã bỏ lại anh, hay ngay từ đầu cô đã chọn cách sẽ quên lãng anh?
.
23.
Không có chiếc cầu vồng nào cả. Vì cơn mưa rơi rớt mãi đến chập tối vẫn chưa ngớt.
7 giờ tối, cô che một chiếc ô màu trắng nhạt, đi đôi guốc cao quai thêu hoa, đứng bên chân cầu An Hội chờ anh. Khi soi mình trước gương, một cảm giác chênh vênh mới lạ ùa đến. Cô có cảm tưởng như đôi guốc ấy đã khiến mình cao lên ít nhất 5 tấc.
Tối nay, cô trang điểm kỹ, cũng lần đầu tiên dùng đến nước hoa. Cô muốn mình khác hẳn buổi ban chiều, khác hẳn so với mọi khi. Muốn trở thành một kỷ niệm đẹp, đọng mãi trong tâm trí anh những ngày về sau.
Từng dòng người hối hả đi qua bên cô. Những tán ô ướt nước lấp loáng ẩn hiện xa xa. Dù có đôi chút buồn bực vì sự trở mình đột ngột của thời tiết, đèn lồng vẫn thắp sáng nơi nơi. Dưới mái hiên ẩm lạnh hơi mưa, hai ông cụ khăn áo chỉnh tề ngồi trầm ngâm bên ván cờ vừa mở. Bên hàng nước đèn dầu chụp chao đỏ, một bà cụ lưng còng nhai trầu móm mém cười khi nhìn ra sông. Vài người cán bộ trong ban quản lý, tay xách lồng đèn, miệng ngậm còi trắng, rảo bước tuần tự trước sau. Bóng đêm như giãn rộng ra ở những nơi sáng ánh đèn và đặc quánh lại khi vào sâu hơn trong lòng phố. Từ đâu đó vọng lại tiếng hát bài chòi rộn rã.
Một bàn tay chạm nhẹ vai cô. Khi quay lại, gương mặt anh hiện ra, hiền hòa và yên tĩnh. Tất cả mọi thứ ở dáng vẻ của anh đều toát lên một sự chấp nhận âm thầm. Cô không nhận ra rằng chính mình cũng như thế.
Họ che chung một chiếc ô, đi qua cầu An Hội. Đêm hoa đăng vẫn còn chưa bắt đầu, những giọt mưa rơi dịu dàng trên sông. Bóng người nhòe nhoẹt đổ dài trên những ngả đường vắng. Vỉa hè ướt sũng nước. Họ cứ hòa theo dòng người đi mãi. Cô có cảm giác đường đi ngày một dốc dần lên cao. Bầu không khí lúc này là một sự êm dịu tổng hòa từ tiếng người trò chuyện, tiếng mưa rơi, tiếng hỏi han và ngã giá bên trong những cửa hiệu, tiếng trống chầu và tiếng người xướng lĩnh trong đám hát bài chòi, tiếng chó sủa rong nhá lên từng chặp, tiếng bước chân ướt mưa lẹp xẹp kéo dài, cả tiếng guốc gỗ gõ nhịp theo mỗi bước đi của chính cô.
Mọi lời nói dường như đã biến mất. Hoặc giả lúc ban chiều họ đã nói cho nhau nghe quá nhiều. Những lời thật tâm, những lời thanh thản, những lời xuất phát từ tận đáy lòng. Chưa bao giờ, kể cả trong khoảng thời gian một năm bên nhau đó, cô lại dễ dàng nói ra mọi thứ với anh như thế.
Có lúc, cô quay sang nhìn anh. Nửa gương mặt chìm trong bóng tối, ánh mắt ngay thẳng và dịu dàng, nét mặt an tường và cương nghị. Ở đâu đó trên mặt đất này, một người con gái vẫn đang chờ đợi anh, một gia đình êm ấm vẫn đang chờ đợi anh. Cô muốn nói với anh điều đó, rằng một người như anh thì xứng đáng được yêu thương và hạnh phúc biết là bao. Anh giống như điều tốt đẹp sau cùng mà cô được biết đến. Như một mùa xuân cuối rồi ai cũng sẽ trải qua và nhớ mãi trong cuộc đời ngắn ngủi của mình.
Dăm bảy chiếc chòi con bỗng hiện ra trước mặt họ. Đám đông tụm lại xung quanh khoảnh đất trống, theo dõi không rời mắt một anh quản trò mặc áo lính buộc dây đỏ ngang hông, đang vừa đi vòng quanh sân vừa gõ liên hồi chiếc chiêng trong tay mình.
Cô níu nhẹ tay anh, ra dấu muốn ghé lại xem thử cuộc hội này. Họ nhập vào đám người gần đó, im lặng và tò mò lắng nghe những lời bàn tán của người am tường về quy tắc trò chơi. Vài người khách nước ngoài cũng tò mò nhập bọn, chăm chú quan sát mọi thứ xung quanh với vẻ háo hức lẫn hoài nghi. Đám con nít cứ đuổi nhau chạy vòng quanh rồi cười phá lên nắc nẻ mỗi khi một trong số chúng va phải ai đó và té ngửa ra sau. Cô nhìn nụ cười rạng rỡ bừng lên trên gương mặt thơ trẻ của chúng. Những ngón chân lấm lem đất cát, những cổ áo sơ mi đã cũ và sờn rách nhiều nơi, những chiếc cúc cài lệch khiến vạt áo cao thấp chênh nhau, những mái đầu lơ thơ tóc rối phấp phới bay ngược về sau. Cô thấy mình như muốn khóc chỉ vì những hình ảnh đơn giản ấy. Cuộc sống là người lữ hành vĩ đại nhất trong thế giới của chúng ta. Ở khắp mọi nơi, luôn luôn có thể trông thấy dấu chân để lại của người. Nhọc nhằn và khó khăn. Tảo tần và vất vả. Những kiếp người không thể tự chọn cho mình phương thức và hoàn cảnh ban sơ để tồn tại trên đời.
Đêm vẫn đang trôi.
Sau những trận cười giòn và âm thanh xướng ca gióng giã, hội bài chòi lại tan một lượt hát. Quản trò thông báo qua loa sẽ nghỉ giải lao trong 10 phút trước khi tiếp tục. Đám đông tản dần đi. Phần lớn trong số đó đều ghé vào hàng quán bên cạnhđể làm tách trà nóng hay đốt vài điếu thuốc cho ấm người. Họ đi lẩn vào một tốp nhỏ để trở về khu trung tâm phố cổ. Mưa chỉ còn rỉ rả vài giọt đủ để ướt áo người đi đường. Anh xếp ô lại, rũ đi những giọt mưa trên vai áo. Cô kéo lại vạt áo khoác, gập duỗi nhẹ những đầu ngón tay. Chẳng ai lên tiếng hỏi phần còn lại của đêm họ sẽ làm những gì.
“Em không có gì để nói với anh sao? Từ lúc gặp nhau đến giờ, việc duy nhất chúng ta làm chỉ là đi mà thôi.” Lúc họ sắp sửa đi tiếp, anh kéo nhẹ tay cô, hỏi khẽ.
“Em thật không còn gì để nói với anh nữa rồi.” Cô mỉm cười, đáp lại anh bằng một ánh nhìn chân thành nhất. “Đêm nay dễ chịu quá. Việc duy nhất em muốn làm cùng anh chỉ là đi mà thôi.”
Nhưng cô đã không nói cho anh biết, đi cùng một ai đó trong đêm, giữa lòng phố nhỏ, giữa dòng người qua, không hỏi han, không chuyện trò, mỗi người đều chìm trong tâm tư của riêng mình, là một trong những giấc mơ của cô. Họ đã từng yêu nhau, họ đã từng xa nhau, và giờ thì họ đi cạnh bên nhau. Còn có gì tuyệt hơn thế mà tình yêu, thời gian và sự thứ tha của lòng người có thể mang lại cho ta?
Cô không còn mong muốn thêm gì khác. Cô đã mãn nguyện rồi.
.
…
Vào lúc 9 giờ hơn, cả dòng sông Hoài bắt đầu rực sáng. Vô số người tụ tập hai bên sông, cầm hoa đăng trên tay, mắt nhắm nghiền, miệng thì thầm những lời ước nguyện. Hàng ngàn ngọn nến nhỏ đang bập bùng cháy sáng. Cầu An Hội như chàng hoàng tử trong câu chuyện cổ, trút bỏ lớp Lừa thô kệch vụng về, trở nên cao lớn và uy nghiêm như một sân khấu trong truyền thuyết. Cô đứng bên này sông, tìm kiếm bóng dáng anh bên kia sông. Họ đã hẹn nhau sẽ thả hoa đăng từ hai bên bờ, khoảng cách một dòng sông khiến cả anh và cô đều thấy yên lòng.
Chẳng có gì buồn hơn khi đứng bên sông, tìm kiếm bóng dáng người ta từng yêu ở bờ bên kia.
Chẳng có gì buồn hơn khi đứng bên sông, biết rằng người từng yêu ta cũng đang dõi mắt về bên này và tìm kiếm ta.
Chẳng có gì buồn hơn khi nhìn một dòng sông luôn chảy.
.
…
“Em đã cầu nguyện điều gì khi thả đèn?”
“Không ai còn phải chịu đau khổ nữa. Tất cả chúng ta đều sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc của riêng mình.”
.
“Anh đã cầu nguyện điều gì khi thả đèn?”
“Đêm nay đừng bao giờ… kết thúc.”
.
Rồi anh lại cười. Và cô thấy nước mắt mình rơi ra ngay khi đó. Có thể đổ lỗi cho cơn mưa vẫn còn chưa thật sự dứt hạt hay những giọt nước nhỏ mang theo ánh sáng lấp lánh đang giấu mình trong đêm, trên những tàng cây. Cũng có thể phủ nhận nỗi buồn trong nụ cười trên môi anh và giọt nước mắt vô nguyên cớ đang lăn dài trên má cô. Nếu có thể, hãy quay ngược thời gian ba vòng liên tiếp. Tìm lại bốn mùa, kéo ngược mười hai tháng, giật lùi hàng ngàn phút và giây.
Nếu có thể, vào mùa hạ năm 2008 đó, xin hãy cho cô yêu anh như chính bản thân mình.
.
24.
Chờ cho đến lúc mây tan và trăng lên, đêm cũng đã vào khuya. Sắc xanh của bầu trời pha lẫn trong bóng tối muộn màng êm ái như nhung. Hội tan, đêm tàn, người thưa thớt. Bên chân cầu An Hội chỉ còn lại hai cái bóng đơn lẻ đứng bên nhau. Cô đưa mắt nhìn khắp xung quanh lần cuối. Ánh đèn khuya hiu hắt. Hơi lạnh sau mưa. Nhịp cầu đơn độc.
Và người đàn ông đã từng thuộc về cô.
Những điều có thể ghi sâu vào ký ức chúng ta vốn chỉ đơn giản như thế. Cuộc đời dài rộng mấy cũng chưa tròn trăm năm. Hai mươi, năm mươi năm sau, khi tuổi già bước đến, dẫu buồn hay vui, dẫu ở bên cạnh hay chia xa, chúng ta đều đã hóa thành những ông, bà lão mắt mờ tai kém.
Mỗi sáng, vì chứng khó ngủ kinh niên của người già, sẽ thức dậy sớm hơn cả bình minh, xuống bếp bắc ấm nước châm trà, nhìn ngọn lửa bập bùng cháy đỏ mà nhớ lại chuyện xưa.
Mỗi chiều, sẽ ngồi trước sân nhìn ra đầu ngõ, thấy mây trắng vùn vụt bay qua mà ngỡ như cuộc đời mình đang được ai đó tái diễn. Rồi lại móm mém cười khi những đứa cháu đang chạy đuổi nhau trong gió, ngang qua mặt mình, chợt dừng lại, gọi khẽ: “Nội ơi!”
Cầu mong sao thời gian sẽ bỏ qua cho trí nhớ, đừng đánh cắp đi từng chút từng chút một những điều tích cóp của chúng ta. Để đến phút cuối đời, khi kề cận hư vô, sẽ dùng hết sức bình sinh sau cùng mà nhớ lại, những ký ức đẹp như sương mai buổi sớm năm nào.
.
25.
Anh đưa cô về lại Rose Garden.
Ở bên ngoài cổng vào, bên dưới giàn tường vy, họ trao cho nhau cái ôm sau cuối.
Không một ai trông thấy cảnh tượng đó, duy chỉ vầng trăng sáng treo mình trên trời cao.
Cũng không một ai nghe thấy khi anh hỏi, lúc đứng trông theo bóng cô ngày càng xa dần trên con ngõ nhỏ. “Chúng ta đã từng yêu nhau, có phải không?”
“Chúng ta đã từng yêu nhau?” Nhưng cô đã ngoảnh lại nhìn anh, đôi mắt sáng lên trong bóng tối, và lời đáp lại không lớn hơn một tiếng thì thầm là bao. “Phải. Chúng ta đã từng yêu nhau.”
Họ đã từng yêu nhau. Tình yêu ấy diễn ra giữa một thành phố có muôn vàn bộ mặt khác nhau. Anh đã từng đến thành phố ấy chỉ để tìm cô. Cô đã từng bỏ đi khỏi nó chỉ vì muốn rời xa anh. Thành phố là người mai mối tác hợp, là người chứng kiến mọi hạnh phúc và khổ đau họ từng trải qua.
Họ đã từng yêu nhau. Tình yêu ấy đẹp tươi như bất kỳ một tình yêu nào khác. Anh đã từng thức suốt đêm vì cô. Cô đã từng xuống đường mua thuốc lá cho anh lúc 1 giờ 20 phút sáng. Những đêm có trăng, họ nướng khô và uống bia lon bên ngoài ban công, chúc tụng cho nỗi cô đơn sục sôi của thành phố và uống mừng cho những đôi lứa trẻ tuổi đã hứa rằng sẽ yêu nhau đến trọn kiếp này.
Phải, họ đã từng yêu nhau, vào mùa hè ấy, khi cô 24 tuổi, còn anh thì 30.
.
Thảo luận
Chưa có phản hồi.