8.
Tháng Tám năm đó.
Khi anh vào lại Sài Gòn, trời miền Nam đang dầm mình trong những cơn mưa thất thường do ảnh hưởng từ một cơn bão trên quần đảo Philippines mang lại.
Thành phố cũng vì thế mà trở nên ủ dột hẳn đi. Gương mặt của nó thường xuyên buồn rũ ra, như một đứa trẻ ngồi nhà nhìn trời, mong cho mưa mau tạnh, vì đã sắp đến giờ hẹn đi chơi cùng bạn rồi.
Qua facebook, cô biết được sự xuất hiện của anh. Người thanh niên Hà Nội, vào Nam tìm lại cô gái đã từng đồng hành trên chuyến đi đến địa đầu Tổ Quốc Hà Giang. Với dân cư mạng, những kẻ vốn đang ảm đạm lây vì sự thất thường của thời tiết, sự xuất hiện của anh chẳng khác nào một ngày nắng ráo đáng ghen tỵ. Câu chuyện đơn giản, tình tiết cũng không mấy ấn tượng, nhưng chính lối bày tỏ thẳng thắn chẳng chút câu nệ của chủ nhân lại khiến họ đem lòng yêu mến. Và như bất cứ ai khác, luôn mong người có tình sẽ sớm tìm thấy nhau, họ nhiệt tình đến đáng sợ trong việc cổ vũ và giúp đỡ anh.
Sức mạnh của internet đôi khi thật đáng sợ.
Anh chẳng làm gì cả, mọi thứ về anh đã tự động đưa đến tận tay cô.
Cô chẳng cần tốn chút công sức nào, mọi thứ không muốn biết cũng đã tự động chảy vào tai mình.
Cô viết mail cho anh vào một tối thứ sáu, hỏi rằng, vì sao lại muốn tìm lại cô?
Anh gửi lại cho cô một tấm ảnh chụp cột cờ Lũng Cú vào buổi sớm mây giăng. Một màu xám xanh phủ trùm lên tất cả. Núi non trùng điệp, sương sớm giăng giăng. Mọi thứ như nhòe đi dưới màn sương dày đặc. Chỉ trừ dưới chân cột cờ, trông thấy rất rõ, một cô gái ngồi lặng im bất động.
Điều đó giúp cô hiểu rằng vì sao lại có chuyến vào Nam này, và cũng cho phép cô phỏng đoán, người đàn ông này rất cảm tính, dễ bận lòng và là một người đại lượng trong tình cảm.
Cô gõ lại một dòng lạnh lùng đáp lại: Giữa chúng ta sẽ không có kết quả đâu.
Anh cười thật hiền qua những con chữ: Thì em cứ xem như cho anh một cơ hội, có được không?
Cô im lặng, cố không suy nghĩ bất cứ điều gì. Nhưng ký ức về buổi sớm tinh mơ ngày hôm ấy đã rất nhanh quay trở lại trong trí nhớ của cô. Có thể xóa facebook đổi email, có thể ngắt mạng cắt đường truyền, có thể tắt máy tính và vờ như mọi thứ đã biến mất, nhưng ký ức ấy, cuộc đào thoát ấy, người thanh niên đã đứng trước mặt và nói với cô rằng, “Chúng mình hãy cùng trở về nhà đi”, làm thế nào mới có thể quên?
Vài ngày sau, lại có một lá mail mới gửi đến. Câu hỏi nhẹ như không: Chúng mình gặp nhau đi. Em có nơi nào đặc biệt yêu thích ở thành phố này không?
Vì tất cả những điều đó, tháng Tám năm đó, khi cơn áp thấp nhiệt đới vẫn còn vần vũ đâu đó trên bầu trời thành phố, cô thấy mình và anh ngồi cùng nhau trong gian phòng sáng ánh đèn của sân khấu kịch 5B Võ Văn Tần.
Vở kịch họ xem hôm đó có tên gọi là gì cô đã không còn nhớ. Kép chính là người nào, kép phụ là những ai, cô cũng đã quên mất từ lâu. Chỉ nhớ cái địa chỉ 5B Võ Văn Tần ấy. Chỉ nhớ cơn mưa nặng hạt kéo lê con đường và dòng xe cộ trong một mảnh màu loang loáng sáng. Chỉ nhớ anh vận áo sơ mi đóng thùng rất lịch sự, đến điểm hẹn sớm 30 phút chờ cô, còn mua theo một bó hoa hồng nhỏ để chốc nữa hạ màn cùng cô lẻn ra sau cánh gà tặng cho người diễn viên cô yêu.
Ngày hôm sau, để lại mấy chữ “người đã tìm được người” trên facebook, anh đi.
Chẳng bao giờ cô còn thấy anh xuất hiện trên mạng nữa, ít ra là ở những nơi cô có thể nhìn thấy và từ những nguồn tin cô có thể nghe thấy.
Nhưng như thế lại hay, một người thanh niên đáo để, cô nghĩ, khi biết rõ đối với cô, sự tồn tại của anh thật hơn hàng trăm friends kia rất nhiều.
Những lời anh đã nói, những việc anh đã làm, không có lá mail nào đủ dài để ghi chép rõ ràng lại và gửi cho cô.
.
9.
Cơ hội mà cô cho anh kéo dài từ tháng Tám sang tháng Chín, lại từ tháng Chín sang tháng Mười.
Cuối cùng, khi mùa đông đến, Sài Gòn vẫn là thành phố phương Nam chỉ hai mùa mưa nắng, chân thật và nhàm chán đến vô cùng, giữa họ vẫn chỉ là một cơ hội anh đang có.
Cô chờ mãi, trong những lần họ gặp nhau nơi công viên thành phố, những lần hẹn nhau bất chợt lúc đầu đêm ở những quán ăn vỉa hè gần nhà, những cuộc đi rạp xem kịch đầy tính chất gia đình chứ chẳng phải phim ảnh thời thượng như bọn trẻ ngày nay vẫn yêu thích.
Cô đã chờ mãi, và cả phỏng đoán, xem khi nào thì anh ngỏ lời cùng cô.
Họ đã hôn nhau tất cả ba lần. Một trong rạp kịch tối đèn, một ở đầu đường lớn dẫn vào nơi cô đang sống, và một ở giữa siêu thị tự chọn 24 giờ lúc đêm khuya.
Cô nhớ rõ lần đó cô có một chương trình gấp, gần đến ngày khởi hành bên phía đối tác lại đột ngột đòi thay đổi lịch trình tour. Cô và đồng nghiệp đã phải ra vào miền Trung liên tục trong ba ngày, đặt lại phòng khách sạn, sắp xếp suất ăn ở nhà hàng và thương lượng đến mệt mỏi mới tìm đủ xe cùng hướng dẫn viên bản địa đủ trình độ để đảm nhận tour Di Sản Miền Trung kéo dài trong 7 ngày cho một đoàn hơn 200 khách. Lúc anh đến, đứng bên dưới đường nhìn lên căn hộ sáng đèn của cô ở tầng hai, đã nhắn cho cô một tin nhắn chứ không vội vào nhà. Rủ cô cùng đi siêu thị mua một loại mì hải sản mới ra của Vifon.
Siêu thị tự chọn 24 giờ vắng tanh vào lúc 12 giờ hơn. Lúc đi vào, họ tình cờ trông thấy các nhân viên bảo vệ và thu ngân đang đổi ca cho nhau. Để tiết kiệm điện, các bóng đèn bên trong đều được đồng loạt giảm nguồn sáng. Trong ánh sáng bàng bạc chỉ có ở cửa hàng tiện lợi lúc đêm khuya, họ lặng lẽ đi bên nhau. Màn hình camera trong góc khuất vẫn tò mò theo dõi từng nhất cử nhất động của cô gái và chàng trai. Đến quầy hàng thực phẩm, cô táy máy chọn hết món này đến món kia, mỗi lần như thế lại quay sang, giơ lên cho anh xem, hỏi, có thích không?
Thực ra thì cô đã rất bối rối trong lúc đó. Cô vẫn nghĩ việc cùng nhau đi siêu thị mua thức ăn khác hẳn với lúc ngồi trong rạp hát hay tản bộ nơi công viên. Không hiểu sao, hình ảnh hai người cùng nấu ăn và sau đó cùng nhau dùng bữa khiến cô nghĩ nhiều đến “gia đình”. Mà điều đó thì khác xa, khác hoàn toàn với quan hệ họ đang có.
Hẳn anh đã nhận ra sự bối rối đó ở nơi cô. Anh mặc cho cô làm gì tùy thích với mớ đồ hộp ở quầy hàng thực phẩm. Chỉ đứng đó, im lặng ngắm cô. Thái độ khẩn trương cô đang tỏ ra có nét gì đó rất giống một cô dâu mới về nhà chồng, lần đầu tiên đi chợ nấu bữa sáng cho cả nhà, bất an và lo lắng biết là bao.
Khi anh tiến lại gần và cúi xuống hôn cô, trên tay cô vẫn đang cầm một gói cháo ăn liền vị thịt bò hiệu Blédina. Nụ hôn nhẹ nhàng trên trán khiến cô im sững trong vài giây. Nó thật kỳ lạ, mang đầy sự trấn an và bảo bọc. Anh nhìn thấu được suy nghĩ của cô sao? Cô ngước lên nhìn anh với ánh mắt nghi hoặc. Chính khi đó, người đàn ông đó lại một lần nữa cúi xuống, hôn say đắm đôi môi cô.
Cô đã quên mất, thật sự đã quên mất, sự đáo để một thời của anh.
Nhưng một nụ hôn say đắm, hoặc ba nụ hôn đắm say, vẫn rất khác với chuyện anh chính thức ngỏ lời nói yêu cô.
Cô đã chờ mãi, từ lúc lần đầu tiên đi cùng anh đến sân khấu kịch 5B Võ Văn Tần. Từ lúc giở trang lịch mỗi sáng và nhận ra Thu Phân đã đến. Rồi Sương Giáng, rồi Lập Đông, rồi Đông Chí, rồi Đại Hàn.
Những tiết khí cứ nối nhau trôi qua mãi, mà anh vẫn chẳng hề nói lời yêu cô. Có lúc, ngồi bên anh, nhìn nửa gương mặt anh chăm chú đọc sách, nhìn những ngón tay màu nâu sáng và cổ tay áo sơ mi xăn cao của anh, cô cảm thấy sao mà xa cách quá.
Dẫu rằng, lúc anh ngỏ lời, cô biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ gật đầu ngay.
.
10.
Cô tự hỏi mình có chờ được đến đêm hội hoa đăng tháng này ở Hội An hay không.
Cô đến đây từ những ngày đầu tháng Tư. Thời điểm rất thích hợp để mang một bài hát cũ nhưng chưa bao giờ lỗi thời của Dương Thụ ra nghe. Thế là máy mp3 của cô suốt ngày chỉ chăm chăm chơi mỗi bài Tháng Tư Về mà thôi. Nghe mãi, nghe mãi, nhìn ra trời, chỉ thấy một màu ngát xanh và mây trắng như bông. Nhưng cô đã đi thăm hết những nơi đáng thăm của phố Hội trong mấy ngày qua rồi. Những đền đài, những hội quán, những chùa chiền, những miếu mạo, cả nhà cổ trầm tích bao đời và nhà hàng đặc sản nổi tiếng với món cao lầu, mì quảng hay hoành thánh. Duy chỉ việc mỗi sáng đạp xe xuống biển Cửa Đại là cô vẫn thích như ngày đầu. Chủ nhà cũng quen dần với tính khí của cô khách lạ, từ lúc tinh mơ đã trở dậy nấu nước, pha sẵn ấm trà, đợi khi cô trở về từ buổi bình minh lại đón cô ở một góc vườn, cùng đĩa khoai lang luộc nóng hổi, lớp vỏ có vị mằn mặn, đôi khi còn đọng lại những hạt muối tinh thể bé xíu, óng ánh.
Vào buổi tối, cô hay thơ thẩn ra chơi phía cầu An Hội. Trong bóng đêm, chiếc cầu nằm lặng lẽ nối liền hai bờ sông. Sông Thu Bồn chảy ngang qua phố, để lại một nhánh mang tên sông Hoài. Một chữ Hoài ấy cũng đủ để người ta hoài nhớ, huống chi nơi đây lại chứng kiến biết bao quá khứ vàng son và lịch sử lẫy lừng. Cô đứng bên đây cầu, nhìn xuyên qua bên kia cầu. Mặt nước màu trắng bạc lừng lững trôi qua bên dưới nó. Ánh trăng non nhập nhòe ẩn hiện giữa những làn nước lao xao. Những cột gỗ dùng để treo đèn giống như những cánh tay khẳng khiu đợi chờ mầm non nảy lộc. Cầu An Hội trong những buổi tối trước đêm hoa đăng thật giống cô con gái trằn trọc lo âu nhiều điều. Nay mai khi trăng tròn, khi người người nao nức trẩy hội, những chiếc đèn đủ màu, đủ sắc diện, đủ hình thù, sẽ thắp sáng nơi đây. Dòng sông Hoài có lẽ vẫn sẽ lững lờ và xa cách như đêm nay, nhưng với những chiếc hoa đăng mang theo khấn nguyện của lòng người, dòng sông có lẽ nào vẫn sẽ trôi an nhiên và vô tình như thế?
Rời bỏ cầu An Hội, cô tìm đến một quán bar có nhiều người nước ngoài lui tới nằm dọc đầu khu trung tâm phố cổ. Ngoài tiếng Anh, đa số nhân viên phục vụ và chủ quán đều biết nói chút ít tiếng Pháp. Cô đã được vị chủ nhà đáng kính kể cho biết về lượng du khách người Pháp đông đúc ở nơi đây. Cả việc có thể nhận diện ra đâu là những người đã đến Hội An nhiều lần, đâu là những kẻ mới toanh chân ướt chân ráo lần đầu đến thăm phố Hội. Rất đơn giản, những người mới đến bao giờ cũng mang theo theo một cuốn Le Guide du Routard (Bạn Đường) bên người.
Cô không biết tiếng Pháp, thứ ngôn ngữ lãng mạn của Victor Hugo mà nhiều người vẫn khen là lịch thiệp và du dương. Nhưng tối hôm đó, chọn cho mình một chỗ ngồi bên cạnh quầy bar, gọi một ly rượu vang nhẹ phổ biến của Pháp, có cảm giác như qua từng giọt rượu nồng sánh, thứ ngôn ngữ xa lạ đó cũng thấm dần vào cô, trở nên quen thuộc hơn rất nhiều.
Trên đường trở về, cô đi qua một quầy bán hàng lưu niệm nằm khuất phía sau một giàn hoa giấy màu tím nhạt. Một cảm giác buồn man mác dấy lên trong cô khi nhìn vào trong, dưới ánh đèn vàng vọt của cây đèn dầu đĩa lạc, một người phụ nữ đeo kính đang ngồi khâu áo trong đêm.
Đâu đó có tiếng trẻ con ê a tập đọc, tiếng trao đổi thì thầm rất riêng tư tựa như giọt sương đang rơi của những người con gái. Sau lớp tủ kính, những chiếc khăn thêu và túi thơm đính hạt nằm im không buồn nói.
Đêm nay, bầu trời mới quang đãng làm sao. Chòm sao Bắc Đẩu đã hiện ra trên nền trời phía Bắc. Những ngôi sao to cộ như mắt cá, nhưng không trơ ra vô cảm mà lấp lánh thứ ánh sáng lân tinh rạng rỡ. Cô cảm thấy dường như chúng đang từ trên cao nhìn xuống và mỉm cười với cô.
Cô đi chậm hơn nữa. Nghĩ đến ngôi nhà xa lạ chỉ mấy mươi bước chân nữa thôi đã về tới và ngôi nhà thân yêu có mẹ xa xôi cách nơi đây hơn 900 cây số theo đường quốc lộ xuôi về phía Nam, cô buồn đến rơi nước mắt.
.
11.
Anh không phải người con trai đầu tiên cô yêu. Càng không phải là người duy nhất.
Mùa xuân năm 17 tuổi, ở cánh đồng hoa miền phố núi cao nguyên ấy, một cậu bạn cùng lớp đã ngỏ lời với cô. Tình yêu tuổi thanh xuân, đẹp như một bông hoa đồng tiền miền dân dã. Cậu con trai ấy chỉ nói ‘thích’, chứ không phải là ‘yêu’.
Họ cũng chỉ mới cầm tay nhau, ngồi tựa vào vai nhau chứ chẳng hề táo tợn hôn cô mà không thèm xin phép trước như anh.
Nhưng khi vào đại học, được tiếp xúc với một môi trường rộng lớn hơn, tự do hơn và mới mẻ hơn về mọi mặt, cậu trai nhu mì ấy gần như đã lột xác trở thành một người khác hẳn.
Chỉ sau ba tháng xa nhau, cách xưng hô giữa họ cũng bắt đầu thay đổi. Cô lắng nghe tiếng ‘em’ ngọt ngào tuôn ra từ miệng cậu bạn, lạ lẫm chấp nhận sự đổi chỗ giữa những cái cầm tay và những nụ hôn. Hơn tất cả, là những lời tỏ tình nồng nàn và bất tận, không cách nào hiểu được cứ từ đâu tuôn ra.
Bất cứ khi nào cô muốn, cậu bạn sẽ nói, ‘anh yêu em’. Kể cả khi cô không có nhu cầu nghe hay đã phát ngấy lên với nó, cậu ta vẫn sẽ nói, ‘anh yêu em’.
Có lúc thì thầm bên tai cô ở giữa rạp chiếu phim tăm tối. Có khi hớn hở mở lời trong một cuộc điện thoại đầu ngày. Gửi mail cho cô cũng vẫn nhắc đi nhắc lại những lời đó. Đưa cô về trước ký túc xá, lời tạm biệt vẫn là, anh yêu em.
Cô nghĩ, câu nói đó, lời bày tỏ tình cảm thiêng liêng giữa một đôi trai gái, đã dần trở thành câu nói cửa miệng của cậu ta mất rồi. Một phản ứng có điều kiện, như khi đói sẽ lục nồi tìm cơm, khi khát sẽ tìm ly uống nước, gặp cô thì nói ‘anh yêu em.’
Thời gian đó, cô bắt đầu nằm mơ khi ngủ. Mơ thấy có người ở bên tai, thì thầm nói mãi một câu ‘anh yêu em’. Thoắt cái, lại ở ngay trước mặt, nụ cười trên môi còn chưa tắt, câu nói ‘anh yêu em’ đã hối hả buông ra. Rồi cũng người đó, sau tất cả bỗng ôm lấy cô, gục đầu nói rằng, ‘anh yêu em’.
Tỉnh dậy, cả người cô rã rời, mồ hôi vã ra khắp toàn thân. Bàn tay trái tê dại trong khi vẫn còn nắm chặt gấu áo không buông.
Bạn cùng phòng quan tâm hỏi han, cô lắc đầu, chỉ là một cơn ác mộng.
.
12.
Anh đã rất chiều chuộng cô.
Đưa cô đi xem kịch bất cứ khi nào cô muốn, đưa cô đi đến bất cứ nơi đâu cô cần.
Phòng trà với không gian tối mờ lúc nửa đêm về sáng khi những vị thính giả trung thành của người nhạc sĩ họ Trịnh tổ chức đêm nhạc kỷ niệm ngày mất cho ông. Hội sách tháng Ba nơi công viên thành phố chẳng lúc nào ngớt người ghé thăm. Trà quán Tĩnh Tâm, nơi có thể nhìn thấy hoa sen nở trái mùa, sắc hồng thắm, hương thanh tao, đẹp như làn môi buổi sớm của người con gái ta đem lòng yêu mến. Cả phòng triển lãm tranh sơn dầu, nơi màu sắc luôn tươi mới như thể vừa được sinh ra. Và câu lạc bộ thư pháp, nơi lý tưởng cho những kẻ vẫn đang lang thang đâu đó giữa cuộc đời, mãi tìm kiếm trạng thái cân bằng giữa cuộc sống chênh chao.
Có những hôm chẳng vì bất cứ lý do gì, anh vẫn dẫn cô đến nhà hàng dùng cơm. Những nơi có tầm nhìn đẹp, có thể nhìn thấy một góc Sài Gòn sôi động hay trầm lắng về đêm. Cũng có khi anh mua sách tặng cô, những quyển sách First New bìa đẹp giấy láng, những quyển sách cô dùng để gối đầu nhiều hơn là để đọc, song vẫn mỉm cười khi nhận lấy từ tay anh.
Nếu cô phải làm việc muộn, anh sẽ đến nhà và nấu thức ăn khuya cho cô. Sau đó, sẽ ngồi bên cạnh nhìn trong suốt thời gian cô ăn. Sau nữa, sẽ dặn dò cô phải đi ngủ ngay sau khi xong việc. Sau nữa của sau nữa, sẽ ra về và nói rằng, em không cần phải tiễn anh đâu.
Đôi khi, cô có cảm giác, anh có thể làm mọi việc vì cô.
Chỉ ba tiếng ‘anh yêu em’ đó là không thể.
.
13.
Từ lúc đến Hội An, cô vẫn giữ thói quen đi dạo mỗi ngày sau bữa cơm tối. Điều đó khiến cô không lúc nào thôi nhớ đến mẹ. Nhưng phố cổ về đêm sao mà trầm mặc quá. Con đường dẫn vào nội tâm của phố phủ dày bởi một màn đêm. Màu thời gian đọng rõ trên những bức tường và góc phố rêu phong. Có lúc đi giữa dòng người, nghe rõ mọi âm thanh, nhìn rõ mọi cảnh vật, vẫn có cảm giác mọi thứ đang dần trở nên mờ nhạt đi. Cô nghĩ, thị trấn nhỏ này là một nơi rất thích hợp khi một ai đó có nhu cầu biến mất.
Có những buổi đêm, cô không ra phố mà ở nhà xem ti vi cùng hai vợ chồng chủ nhà.
Để lên được phòng khách, phải đi lên một cầu thang gỗ lúc nào cũng phát ra tiếng kêu ọp ẹp buồn bã mỗi khi có người đi qua. Mỗi tối, từ căn phòng giống như một gác xép nằm bên cạnh khu vườn của mình, cô vẫn thường nghe thấy một tiếng rì rào nho nhỏ từ đâu đó vọng đến. Có lúc, cô thật chú tâm lắng nghe, xem xem đó là âm thanh gì. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, cô chỉ nằm nghiêng người trong chăn, ngắm khu vườn xào xạc trong gió và chìm dần vào giấc ngủ trong tiếng rì rào bên tai.
Phòng khách bày trí đơn giản, một bộ ghế mây quây quanh chiếc bàn nhỏ cũng làm từ mây nốt. Một chiếc ti vi màu 21 inch đặt lọt thỏm giữa gian kệ chất đầy những sách và các món đồ lưu niệm khác. Ở vị trí trang trọng nhất, là bức ảnh gia đình ba người lồng khung đang tươi cười bên nhau.
Cô ngồi xuống chiếc ghế mây xa nhất, lặng lẽ nhìn đôi vợ chồng già đỡ tay nhau ngồi xuống chiếc ghế đôi giữa phòng. Gió lùa qua cánh cửa chớp thổi vào gian phòng nhỏ. Chiếc phong linh bằng đất nung treo ở góc phòng rung lên khe khẽ. Những bức ảnh chân dung đen trắng từ trên những ngăn tủ buýt-phê hướng về phía cô những nụ cười cùng gương mặt thanh thản. Âm thanh đưa ra từ ti vi nghe lạo xạo như tiếng chân người đi trên sỏi. Cô mơ hồ nghĩ, cảm thấy gương mặt người phát thanh viên trong màn hình có lúc dạt ra thật xa, có lúc lại bất thần sà đến thật gần, giống hệt như một cây du đang đung đưa thân hình dẻo dai của mình trong gió.
Lúc gần ngủ thiếp đi, cô lơ mơ nghe thấy có tiếng ai đó gọi mình. Nhưng buổi tối đêm nay sao mà êm ái quá, mọi thứ từ ánh sáng cho đến âm thanh, từ con người cho đến cảnh vật, đều trải ra êm đềm như một mời gọi trước mắt cô.
Ngủ đi thôi, ngủ thật say và thật sâu đi thôi.
Tiếng ai đó khe khẽ vang lên và cô bỗng nhận ra mình đã mệt mỏi đến dường nào.
.
14.
Rồi vào một ngày nọ, một ngày tinh mơ nọ, cô cũng bỏ anh mà đi.
Đêm trước đó, cô đã để anh ôm trong tay, đã để anh hôn lên tóc, đã ngồi nghe anh nói mãi về viễn tưởng “gia đình và những đứa trẻ” trong vòng 5, 10 năm sau. Khoảng cách giữa họ khi đó chỉ áng chừng năm gang bàn tay. Gần đến nỗi cô có thể nhìn rõ những chấm tàn nhang sẫm màu bên thái dương anh, nốt mụn đầu đen trên đầu chóp mũi, và cả sợi lông mi rất dài vừa chợt rơi trên má anh. Nhìn lâu cô lại nghĩ, nom anh giống như một bức chân dung được phả vào hơi thở, sống động nhưng ngượng ngập, thoạt nhìn ngỡ như vừa khít nhưng thật ra lại rất lạc lõng giữa nơi đây.
Một lúc nào đó, khi anh còn đang nói, cô cúi đầu tìm kiếm bàn tay anh, nhặt lấy nó, áp lên trái tim mình, rồi lên cổ, ngừng lại ở mặt. Lòng bàn tay có những nốt chai sần ở nơi cầm bút, có những khoảng hõm như đang chờ được lấp đầy, có những hơi ấm từng đêm ngày trao cô.
Nhưng sau cùng, bỏ lại sân khấu kịch 5B, bỏ lại những trà quán và câu lạc bộ, những ngả đường và nẻo phố, những hò hẹn và đón đưa, những đêm trắng bất tận và ngày mới nắng vàng, những ân cần và âu lo, những khát khao và hư vọng.
Đơn giản hơn cả, bỏ lại anh, cô đi.
.
15.
Lúc đứng bên cầu Chùa trong ánh ráng chiều của một buổi hoàng hôn rực rỡ, cô nghe thấy những người xung quanh kháo nhau về buổi ca nhạc sẽ diễn ra đêm nay ở sân khấu ngoài trời bên chân cầu An Hội. Điều đó gây cho cô không ít tò mò. Hỏi rõ hơn thì được biết, nghe đâu ca sĩ Ánh Tuyết, một người con của đất Hội sau mười năm tha phương, đêm nay sẽ quay trở về và hát cho đồng bào ta nghe một đêm nhạc Trịnh.
Chỉ nhớ đó là cô ca sĩ từng hát bài Ô Mê Ly tuyệt hay của nhạc sĩ Văn Phụng mà suốt thời niên thiếu cô vẫn mê mẩn hát theo mỗi khi nghe thấy.
Nhưng đêm vẫn chưa xuống, cuộc tao ngộ giữa người con xa quê và vùng đất Hội vẫn chưa thể diễn ra, cô vẫn còn cả một buổi hoàng hôn trước mắt để rong ruổi cho thỏa đôi chân mình.
Nhưng thay vì vậy, cô lại quay về chỗ đứng ban nãy trên cầu Chùa mà nhìn dòng sông Hoài lừng lững trôi. Đây là lần đầu tiên cô được nhìn thấy tận mắt một cây cầu cổ, hơn nữa còn được chạm vào nó, đi qua nó, đứng trên nó.
Không thể làm được gì với thời gian, một ai đó đã thở dài khi nói lên câu đó. Cái thở dài bất lực, còn câu nói thì đậm màu xót xa. Những nhịp cầu giăng khắp quê hương chúng ta, nối liền bờ bên này và bờ bên kia, mang con người lại gần nhau hơn, thu hẹp những khoảng cách, nối rộng các vùng miền. Các nhịp cầu ấy, ngày càng trở nên hiện đại biết là bao. Nhưng cây cầu cổ này, mang kiến trúc xen lẫn giữa Việt Nam và Nhật Bản, mang trong mình ba nền văn hóa giao thoa, Thượng gia hạ kiều, trên là nhà dưới là cầu, chiều dài chỉ vỏn vẹn 18 mét, đứng giữa phố Hội hệt như một kỷ vật nhỏ nhoi bị thời gian đánh rơi.
Cô đứng trên cầu Chùa, ngắm hoàng hôn rơi xuống, tự hỏi mười thập kỷ trước đây, liệu có cô thiếu nữ mơ mộng nào, cũng đã từng đứng ở nơi đây và đắm chìm trong cảnh chiều buông giống như mình?
Khi sân khấu ngoài trời của người nữ danh ca ấy mở màn, cô vẫn còn lang thang đâu đó giữa lòng phố cổ. Âm nhạc vang lên như một sợi chỉ bạc, xuyên qua bóng tối, tìm đến với cô, đưa cô về lại bên chân cầu An Hội, cùng đứng lẫn trong đám đông người, cùng đưa mắt nhìn về người thiếu phụ đang rưng rưng đầy xúc cảm khi Gọi tên bốn mùa tha thiết ngân cao.
Từ chỗ đứng của mình nhìn về phía sân khấu, đôi lúc cô phải nhắm mắt lại vì ánh đèn quá chói. Ánh sáng loang loáng trải ra khắp mặt sông. Hai bên bờ sông đã tụ đầy người dân bản địa và du khách từ rất sớm. Còn có cả phóng viên mảng văn hóa nghệ thuật từ một số nơi đổ về. Rất dễ để nhận ra họ giữa một nơi như thế này. Cử chỉ quá mạch lạc, ánh mắt quá tinh khôn, thái độ giống như một thợ săn lão làng, luôn trong trạng thái sẵn sàng phát hiện và tóm lấy một điều mới lạ nào đó. Ánh đèn flash như ánh sáng của những ngôi sao rơi, vụt lướt qua tầm mắt của đám đông khán giả, bắt lấy bóng dáng của người con gái phía xa xa.
Tiếng ve kêu rỉ rả, tiếng sóng vỗ dập dềnh, tiếng trẻ con líu lo và tiếng chó sủa rong vẳng ra từ một ngõ nhỏ nào đó.
Thấp thoáng đâu đó trong những lòng phố vắng, bên dưới mái hiên của ngôi nhà cửa đóng then cài, là ánh đèn lồng lặng im trầm mặc.
Đêm ấy, Ánh Tuyết mặc một bộ áo dài màu tím nhạt thêu hoa văn kim tuyến, ngồi trên một bục gỗ giữa sân khấu rộng, hát rất nhiều những tình khúc Trịnh. Tiếng hát của chị nhiều khoắc khoải và nhớ mong, lắm khi lại đau đáu, cứ như buổi đoàn viên này thật chẳng thấm gì nỗi nhớ thương quê nhà mà 10 năm qua đã lấy đi của mình.
Đêm ấy, cô chỉ trở về khi trời đã vào khuya. Hầu như tất cả họ đều thế, những khán giả bình dân không hoa hòe của đêm nhạc. Những khán giả đã đứng bên sông, đã ngồi trên cỏ, đã lẫn trong đêm. Tất cả đều tản đi, biến mất vào những lối nhỏ, tan mau trong bóng đêm ngày càng dày đặc khắp nơi nơi. Giống như một đàn đom đóm nhỏ, phút trước còn mê hoặc lòng người bằng ánh sáng xanh bí ẩn, phút sau đã nhẹ nhàng rời đi, biến mất vào trời đêm bao la chi chít những ngôi sao mùa hạ.
Không gian yên ắng nồng nàn một mùi hương tĩnh tại. Trong tiếng lao xao của sóng nước và tiếng râm ran của chuyện trò, cô đi giữa dòng người, bước thật chậm khi qua cầu An Hội, thở ra từng hơi thật khẽ và lặng lẽ xoa nhẹ những ngón tay đã chớm lạnh vì sương đêm.
Đêm ấy, đêm đầu hạ ấy, ngày 11 tháng 4 Dương lịch.
Đêm thứ bảy cô ở Hội An, và cái hẹn đêm hoa đăng ngày trăng rằm dường như ngày càng trở nên xa xôi hơn bao giờ hết.
.
Thảo luận
Chưa có phản hồi.