3.
Mẹ mãi vẫn không trả lời về chuyện cô muốn đưa mẹ cùng đi Hội An, dù đã vuốt tóc cô khi cô nói ra những lời đó, dù đã không dưới ba lần kể từ lúc về nhà cô lặp đi lặp lại điều đó với mẹ.
‘Hội An đâu có quá xa xôi như mẹ vẫn nghĩ, mẹ ạ. Nó ở ngay đó, chiếm một vị trí khiêm tốn và một diện tích nhỏ nhắn trên tấm bản đồ hình chữ S của đất nước ta. Con sẽ đưa mẹ đến đó, cùng nhau ngắm những ngôi nhà cổ trong ánh ráng chiều, xem hội hoa đăng trên dòng Hoài Phố, và xuýt xoa trước tô cao lầu vàng rộm của nhà hàng địa phương. Nghe nói ở Hội An đặt may đồ chỉ trong ba ngày đã nhận được, lẽ nào mẹ không muốn thử tay nghề của những cô thợ may ở vùng cảng cổ đó sao?’
Đôi khi, cô muốn nói với mẹ những điều đó. Những điều đã miên man suốt trong lòng cô từ những ngày nằm bệnh ở Đà Nẵng. Cô mong sao mình có thể biết được niềm mong mỏi lớn nhất trong lòng mẹ là gì? Gạt ra khỏi tâm trí mẹ những mối vướng bận mang tên chồng con, nhà cửa, cô mong được nhìn thấy giấc mơ riêng của mẹ? Biết được nơi nào cần lấp đầy, nơi nào cần san phẳng, nơi nào cần rũ đi, trong cuộc sống thường nhật chừng như cứ kéo dài bất tận ra mãi với những điều nhỏ nhặt và phiền muộn, cũ kỹ và không bao giờ vơi đi, của mẹ?
*
Sáng hôm sau, khi cô thức dậy, nắng đã rỡ ràng một màu vàng ngắt. Xa xa, từ phía cuối xóm, vọng lại tiếng gáy le te của một chú trống choai nào đó. Chiếc đồng hồ báo thức hình chim cánh cụt bao năm qua vẫn đứng yên lặng trên đầu giường, ngay lúc này đây hướng về phía cô một cái nhìn chăm chú qua đôi mắt nhỏ màu xanh xám, cây kim dài nằm giữa khuôn bụng to chỉ vừa nhích qua khỏi con số 7 một chút. Cô xuống giường, trong lúc thu dọn chăn mùng thì lắng nghe tiếng chim lích rích trên tán cây mít bên vườn. Cửa nhà vẫn im ắng như buổi chiều qua. Nhưng khi ra khỏi phòng, cô nhận ra có âm thanh trò chuyện đang vang lên khe khẽ đâu đây. Cô nhìn quanh, rồi xuống hẳn nhà dưới, song vẫn chẳng thấy bóng mẹ đâu. Thay vào đó, có tiếng ho khan chốc chốc lại vang lên từ phía nhà trước. Trên thềm nhà, bên dưới nhành phong lan đỏ, bố vừa ngồi đọc báo sáng vừa nghe radio như mọi khi.
Đến khoảng 8 giờ hơn thì mẹ đi chợ về. Trong thời gian đó, việc cô làm chỉ là ra ngồi bên cạnh bố và đón lấy những trang báo rời bố đưa cho rồi cắm cúi đọc. Từ trước đến nay vẫn thế, hai bố con luôn đọc báo cùng nhau. Bỏ đi mớ phụ lục quảng cáo dày cộm và lắm lời, bố sẽ mở toang tờ báo và bắt đầu đọc từ giữa trang. Sau đó, cứ xong một trang, bố lại đưa sang cho cô. Dì bán báo gần nhà biết rõ tính tình của hai vị khách quen, chẳng khi nào bấm cố định tờ báo bằng kim ghim bao giờ.
Báo sáng ngày hôm đó không có nhiều tin tức thú vị cho lắm. Họ đọc về nỗi băn khoăn của phụ huynh khi có dự đoán cho rằng thành phố sẽ không thể nào đáp ứng được nhu cầu cho các bé độ tuổi mầm non trong năm học tới. Họ đọc được dự báo về việc tình hình vật giá sẽ tăng nhanh trước cả khi nhà nước kịp điều chỉnh mức lương tối thiểu ở các khu công nghiệp. Xe buýt lại phóng ẩu gây ra tai nạn cho người đi đường. Việc giải tỏa và đền bù cho các dự án đường cao tốc ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vẫn cứ dùng dằng kéo dài ra mãi. Sau cuối, cô đọc thấy một mẩu tin ngắn ở phần “Sức khỏe và đời sống”, bảo rằng hạt sen có tác dụng trị chứng mất ngủ, giúp chúng ta có được giấc ngủ ngon và sâu hơn hàng đêm. Cô thầm nghĩ nhất định phải nói điều này cho mẹ biết.
Không khá khẩm gì hơn, chương trình đài phát thanh trên sóng FM và AM sáng hôm đó cũng buồn tẻ chẳng kém. Bố dò tần số mãi, cuối cùng mới nghe được một tiết mục hú họa về đời sống nông dân.
Một lúc nào đó, khi ngẩng nhìn lên, cô bỗng trông thấy mẹ.
Mẹ từ bên ngoài đi vào đầu ngõ. Mặc trên người một chiếc quần tây đen và một áo sơ mi vải rũ dài tay. Một tay mẹ xách chiếc giỏ nhựa đầy ắp rau xanh và thịt, cá. Tay còn lại là một túi lựu vỏ ngoài phơn phớt hồng. Mặt trời ở phía sau lưng mẹ. Ánh nắng nhảy nhót trên những tán lá xanh. Bầy ong say mật vẫn đang vo vo bay vòng quanh mấy khóm hoa nơi cuối sân. Cô bỏ những trang báo, từ thềm chạy ra đỡ lấy chiếc giỏ to giúp mẹ.
Ngay lúc đó, phía đầu xóm, bất ngờ rú lên một tràng đinh tai nhức óc của động cơ xe máy. Cả mẹ và cô đều giật mình ngoái nhanh lại. Lũ chó nuôi đang ngủ lim dim dưới thềm nhà cũng bị làm cho giật bắn, nhảy nhổm cả lên, ngó dáo dác xung quanh rồi đồng loạt tru lên inh ỏi. Bố phải cuốn tròn tờ báo lại, dứ dứ về phía chúng ra vẻ dọa nạt, chúng mới chịu im đi.
Ăn sáng xong, bố bảo sẽ đi ra ruộng thăm mấy luống ngô vừa mới tra hạt tuần trước. Phút trước, bố vừa đứng dậy đi vào nhà trong lấy nón, phút sau ngoài này đã nghe mẹ lên tiếng nhằn ngay. “ Đấy, con xem. Vụ mùa vừa qua, chuyện đồng áng vừa vãn là bố con đã xoay sang lo cho đám ngô ngay. Mẹ bảo ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe mà bố con đâu có nghe. Bướng lắm cơ, mẹ chỉ nói một câu mà đã cự lại cả tràng, nào là lớn tuổi rồi, già cả rồi, nếu mỗi ngày không động tay động chân, không đứng lên ngồi xuống cho giãn gân giãn cốt là không được đâu, là sẽ mắc bệnh này bệnh nọ ngay. Báo đài chẳng đưa tin liên tục là gì? Bệnh loãng xương, bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp, vân vân và vân vân….Chỉ sợ người không sống nổi, chứ chẳng sợ thiếu bệnh để mắc. Nói chi mà dài dòng thế không biết? Trong khi mẹ đây thừa hiểu tính bố con, ngày nào không được ra đồng là ăn cơm chẳng thấy ngon ngay. Mấy hôm nay có con gái đi xa về thăm mà cũng chẳng ở nhà được cho lấy một ngày.”
“Cái bà này thật là…Định thừa cơ bôi xấu tôi trước mặt con đấy à? Bà coi, con nó đã nói rõ rồi còn gì? Lần này về chơi sẽ ở lại cả tháng trời, có phải ngày một ngày hai đâu mà bắt tôi phải chăm con kỹ thế? Để yên cho con nó nghỉ ngơi không phải còn hay hơn sao?” Mặc cho bố ôn tồn là thế, mẹ vẫn chỉ nhấm nhẳng quay đi, sau khi buông ra thêm một câu, “Chỉ giỏi tài chống chế thôi…” thì vờ ra vẻ chẳng thèm quan tâm đến nữa.
Cô hết nhìn cái dáng giận lẫy của mẹ lại quay sang ngắm vẻ khổ sở phân trần của bố, cái cười cố nén gây ra một cảm giác nhột nhạt, râm ran, và dễ chịu đến mức cứ như có cả một đàn kiến đang diễu hành qua trái tim cô.
Lúc này đây, sau vài phút sửa sang đơn giản, trông bố của cô đã ra dáng một bác nông dân cần cù lắm rồi. Một chiếc áo dài tay khoác ngoài màu cà phê sữa với những vệt bùn màu nâu đỏ lem nhem; một chiếc mũ vải màu be đã nhàu chụp lên trên mái đầu dãi dầu hai màu mưa nắng; và kia nữa, bên ngoài ống quần kaki dày màu lông chuột, một đôi ủng cao tới đầu gối luôn lấm lem bùn đất vì đã giúp bố thuộc làu mọi đường ngang ngõ dọc nơi cánh đồng xa.
Thêm vào đó, là lưỡi cuốc nước lên bóng loáng cả phần tay cán và một chiếc túi jean căng phồng đựng đủ thứ đồ linh tinh đeo vội ngang người. Cô đoán bên trong không gì khác hơn là gói thuốc rê, bọc trà đen, phích nước nóng, một cái ấm sứ và một ly cối to. Còn có cả một chai dầu nóng để xoa bóp tay chân khi nhức mỏi, mấy tờ báo vụn để làm mồi châm lửa lúc chiều hôm, và dĩ nhiên, chiếc đài chạy pin có cây ăng-ten có thể kéo ra thu vào đã làm bạn với bố suốt hơn mười năm qua.
Nhìn bố như thế, người đàn ông luống tuổi trung niên, gương mặt chữ điền trẻ trung năm nào giờ sạm đen hẳn đi vì nắng đồng gió núi, những ngón tay chai sần lúc nào cũng chi chít những nốt phồng vì nước ăn, nhưng những lúc nói về ruộng đồng ánh mắt lại lấp lánh say sưa, cô không khỏi nghe lòng se lại.
Tiễn chân bố ra đến đầu ngõ, cô quay sang hỏi mẹ.
“Vụ lúa vừa rồi là Đông Xuân mẹ nhỉ? Ruộng nhà mình thế nào ạ?”
“Năm nay lúa trúng, nhà mình có mỗi năm sào đất mà bố con và chú Tư đã lo không xuể. Nên hồi tháng trước phải thuê cả thợ gặt ở vùng bên sang giúp đấy. Cũng là bất đắc dĩ lắm mới phải thế, thợ bây giờ làm thì ít mà nghỉ thì nhiều. Còn phải giở cơm trưa theo cho họ nữa kia. Rồi tiền công cán. Nhà mình neo người nên đành phải thế.”
Trong lúc nói, mẹ vẫn cố rướn người để có thể nhìn theo bố thêm một quãng nữa. Con đường đất xuôi theo bờ mương chạy dài đi mãi. Nắng sáng vàng như mơ, bước chân bố nhẹ tênh, lối nhỏ hóa thênh thang, trời trên cao xanh thẳm.
“Thế ruộng nhà mình đã đốt rạ chưa ạ?” Vừa nói, cô vừa bước đến gần mẹ, theo thói quen lại xoa nhẹ hai bên vai mẹ. “Con nhớ quá, hồi bé con và anh hai chỉ toàn canh lúc hết đồng mà rủ nhau đi bắt dế thôi. Những con dế đất vừa gáy to vừa đá nhau rất khỏe, lúc nào cũng trốn tít dưới hang sâu. Mùa hè thì xé giấy tập, vót nan tre, trộm chỉ may, thi nhau làm diều. Chạy chơi mệt chỉ việc nhảy ùm xuống sông và vùng vẫy đã đời. Xong lại trèo lên đê mượn cái nắng tháng Tám hong khô mái tóc ướt. Khi nào người đã mệt, bụng đã reo, mà được ăn món cá kèo nướng rơm thơm nức mũi thì chẳng còn gì bằng. Những buổi chiều nắng đầy, hoàng hôn nhuộm đỏ cả bầu trời. Những đêm trăng đầu tháng, sao rơi như mưa trên cánh đồng. Hồi ấy, cả ngày hầu như đều ở ngoài đồng mẹ nhỉ?”
Bóng bố cuối cùng cũng khuất hẳn trên con đường đất, sau lũy tre làng. Đàn cò trắng dang cánh bay qua đồng xanh, dăng thành một đường cong mềm mại như lụa. Mẹ cuối cùng cũng chịu quay lại nhìn cô. Ánh mắt mênh mông hệt như một ao nước đầy, rất trong.
“Bố con có bao giờ để mẹ phải nhắc chừng việc gì đâu. Nay mai là bắt đầu cày ruộng, bừa đất và ủ phân rồi đấy. Nếu mà được ruộng nước như người ta, mẹ chắc bố con đã làm một năm ba vụ luôn rồi.”
Cô đáp lại ánh mắt mẹ bằng một nụ cười rất hiền, rồi bỗng nhiên trở thành một cô con gái rất ngoan, trong ánh nắng vàng mơ của buổi sớm, dịu dàng đỡ mẹ đi vào nhà.
“Sao thằng út lại học cơ khí cơ chứ? Con mà là con trai như nó, sẽ ở nhà theo bố học làm ruộng ngay. Thích đến thế cơ mà. Chỉ cần được ngắm một cánh đồng đương mùa lúa say đòng đòng thôi là bao nhiêu mệt mỏi đều bay biến cả. Xanh ngăn ngắt, trải dài tít tắp, gió lồng lộng, con biết tại sao bố lại thích ra đồng đến thế đó mẹ à.”
“À, mẹ kể con nghe chưa nhỉ? Hồi trẻ, cách đây chừng hai mươi năm ấy, mẹ từng tham gia cuộc thi cấy lúa có tên “Bàn tay vàng” của Hội nông dân huyện mình. Mỗi xã chỉ cử ra hai đại diện thôi, một nam một nữ. Giải thưởng là gì nhỉ, hình như là hai mươi ký nếp cái hoa vàng thì phải. Loại ấy để nấu xôi thì ngon phải biết.”
“Mà có khi bố thầm thương mẹ cũng từ đó đấy. Bố thích ruộng đồng như thế, phải lòng một cô thợ cấy giỏi là chuyện đương nhiên rồi, mẹ ha.” Cô hấp háy mắt, cười trêu mẹ.
Đáp lại, sau vài phút yên lặng như chợt chìm vào một dòng suy tư nào đó, mẹ chỉ quay sang, đưa tay điểm nhẹ lên tóc cô, cười khẽ khi mắng yêu: “Tổ cha cô, mới ngày nào còn nhằn nhẵn bám theo tôi cả ngày, giờ đã dám trêu chọc cả mẹ đây sao?”
.
Mặt trời lên cao ba sào. Nắng từ vàng mơ chuyển sang vàng rực. Gió đang thoảng nhẹ bỗng chốc im lìm. Ngôi chợ nhỏ tự nhóm tự họp ở đầu làng cũng lác đác tan, các bà các thím giỏ xách tay mang lục tục kéo nhau ra về. Trong gió đã bắt đầu ngửi thấy mùi khói bếp, dao thớt đã bắt đầu reo lên tiếng ‘lách cách’ khi chạm nhau. Trong ngôi nhà nhỏ của mình, cô cũng lẽo đẽo theo mẹ xuống bếp, chuẩn bị bữa trưa cho cả nhà.
Cá điêu hồng chiên lạt dầm nước chấm, canh đu đủ hầm xương và rau muống xào tỏi. Còn món lựu kia là món tráng miệng sau cùng.
Cô giành lấy phần làm cá và nhặt rau. Mẹ ngồi bên cạnh gọt vỏ và xắt mỏng đu đủ thành từng miếng đều nhau có màu vàng hườm. Thi thoảng, lại nhìn sang chỗ cô thăm chừng xem việc làm cá ra sao. Những chiếc vảy đánh bong ra khỏi thân cá sáng lên lấp lánh dưới ánh mặt trời. Cô nhìn đôi mắt to cộ không bao giờ có thể khép lại và cũng không biết khóc là gì của con cá. Chìm sâu trong làn nước, nom nó vô lo và nhàn nhã đến lạ. Cả cuộc đời ngắn ngủi của mình, ngoài tự do bơi lội trong những làn nước mát, cá có còn biết đến nỗi buồn đau nào không?
“Mẹ à, mẹ có biết điều gì khiến cho Hội An nổi tiếng nhất không? Nhiều người vẫn bảo là vì có khu phố cổ, có cây Cầu Chùa, cả những Hội quán của người Hoa và những đêm 14 âm lịch thần tiên, khi dòng sông Hoài trở nên rực rỡ nhất, chìm trong ánh lung linh huyền ảo của lớp lớp hoa đăng. Nhưng với con, nói tới Hội An là chỉ nhớ ngay đến hai điều: một là món chè chí mè đen của một ông lão tóc lưng còng phơ phơ bạc trên góc đường Trần Phú mà 5 năm trước con đã tình cờ được nếm thử trong lần đầu tiên đến thăm phố Hội; hai là những chiếc đèn lồng. Không một nơi đâu trên đất nước mình lại có nhiều đèn lồng như ở Hội An mẹ ạ. Đủ màu sắc, đủ hoa văn, đủ dáng hình, đủ chất liệu. Phố cổ là một vương quốc thu nhỏ của các họ hàng cư dân nhà đèn lồng. Con của mẹ, con gái của mẹ, đã từng thức suốt một đêm không ngủ trong khách sạn nhỏ ở Hội An chỉ để ngắm đèn lồng đỏ trong đêm khuya, dưới mái hiên, dọc bên ngoài hành lang thôi đấy. Mẹ có chắc là mẹ không muốn đến đó một lần cho biết không? Không đi được ô tô cũng không sao đâu ạ, từ thành phố ngồi máy bay ra đó cũng chỉ chừng một tiếng đồng hồ thôi.”
Cô nói một tràng dài rồi ngừng lại, thấp thỏm đến mức không dám quay sang nhìn xem phản ứng của mẹ thế nào. Tiếng dao thái lách cách vẫn vang lên đều đặn. Hồi lâu sau, mới nghe mẹ thủng thẳng lên tiếng.
“Mẹ lớn tuổi rồi, có ăn được món chè chí mè gì gì đó hay không cũng chẳng sống thọ thêm được tuổi nào đâu. Đèn lồng thì chẳng phải ngay chỗ mình cũng có sao? Con đi ra đình ông Cọp mà xem, nguyên dây đèn lồng treo từ hôm cúng đình rằm tháng chạp năm ngoài vẫn đầy ra đấy. Chắc là không đẹp bằng, nhiều bằng ngoài Hội An như con nói nhưng lâu đời lắm rồi đấy, từ hồi bà nội con còn bé tí đã thấy có rồi, cúng đình năm nào cũng thấy đem ra. Còn nữa, con làm ở thành phố được nhiều tiền lắm sao mà đi trong nước thôi đã bày đặt máy bay này máy bay nọ? Làm người không biết lo xa đến lúc đau ốm hay hoạn nạn thì mới biết khổ con ạ!”
“Thế mẹ không thích ngắm hoa đăng thả sông sao ạ?” Cô vẫn bướng bỉnh nói thêm. “Hồi trước chẳng phải có lần xem phim Trung Quốc thấy cảnh ấy mẹ lại trầm trồ, bảo muốn một lần được nhìn thấy tận mắt còn gì. Với lại ấy, cao lầu khác hẳn với mì xào giòn mẹ nhé. Cao lầu là món đặc sản trứ danh của Hội An đấy ạ.”
Lần này thì mẹ ngoảnh sang nhìn cô thật.
“Còn cả việc mẹ hay đặt may đồ ở tiệm cô Hằng xóm dưới. Con chẳng đã bảo cô ấy vừa may vụng vừa ăn đắt còn gì? Mẹ xem, Tết năm ngoái mẹ đặt may một lúc ba bộ, sau đó có thấy mặc được bộ nào đâu? Thế nhưng, mẹ cứ vì thương hoàn cảnh mẹ góa con côi của cô ấy mà lui đến mãi…”
“Con còn trẻ, chưa có gia đình nên không hiểu.” Mẹ buông dao, thở dài nhìn ra giàn dâm bụt đang trổ đầy những cái bông đỏ thắm phía vườn nhà dì Tư hàng xóm. “Ngày xưa, nhà chồng cô Hằng nhờ nghề đi ghe mà khá, nhưng năm ấy cả bố lẫn con không may đều bỏ mình vì nghề. Hai người đàn ông trụ cột thoáng chốc đều không còn nữa. Cả nhà trên dưới chỉ còn mỗi ba người đàn bà, cô Hằng khi ấy lại vừa có thai hơn hai tháng. Cũng phải nương tựa vào nhau mà sống chứ còn biết làm gì khác. Chúng ta là hàng xóm, láng giềng, không giúp được cái này cũng phải giúp được cái khác. Với lại, họ đã kiên cường sống tiếp đến bây giờ là đáng quý lắm rồi.”
“Mà con cứ đi suốt như thế, làm sao biết được mẹ có mặc đồ do cô Hằng may hay không?”
Câu nói sau cùng khiến cô ngừng tay đánh vảy con cá thứ hai. Nhưng khi cô quay lại, tiếng dao thái lách cách đã lại đều đều vang lên. Trời xanh quá, cây lá cũng xanh quá, và khoảng sân sau nắng đầy đến độ chỉ sau vài phút nhìn, cô đã phải vội quay mặt đi.
*
Buổi trưa miền Nam trời oi bức đến lạ. Sau bữa cơm trưa, cô ngồi trên thềm nhà đọc một quyển tiểu thuyết Nga có tựa đề “Đaghextan của tôi”. Thi thoảng, khi nhìn ra sân trước, những cái bóng bất động sừng sững của đám cây cối khiến cô có cảm giác mình đang chịu sự theo dõi chặt chẽ từ những con người vô hình. Có tiếng quạt máy chạy vo vo phía nhà trong. Lâu lâu sự im lặng của con xóm nhỏ sẽ bị phá vỡ bởi tiếng nổ giòn giã của những chiếc xe máy lên xuống. Đọc được một phần ba quyển sách, cô đột nhiên cảm thấy khát nước. Lúc đi qua phòng mẹ để xuống bếp, cô nhận ra cửa vào chỉ khép hờ không đóng. Cô do dự một chút, rồi cũng đứng lại, ghé mắt nhìn vào trong. Giữa căn phòng vắng, người mẹ thân yêu của cô đang ngồi một mình với quyển album ảnh gia đình. Cô thấy mẹ dừng lại khá lâu mỗi khi lật qua một trang ảnh. Đôi khi mẹ mỉm cười, đôi khi mẹ chau mày đăm chiêu. Và không ít lần, sự hồi tưởng khiến gương mặt mẹ rơi vào một sự mơ màng kỳ lạ. Trên đầu tủ quần áo đặt đối diện với giường, cô trông thấy một bức chân dung tuổi thanh xuân của một cô thiếu nữ trong bộ áo dài trắng. Mẹ trong ảnh có ánh mắt xa xăm và u buồn cô chưa bao giờ trông thấy qua. Cũng có thể vì bức ảnh chỉ hai màu đen trắng buồn bã mới khiến cô có cảm giác như thế khi nhìn vào.
Cô lại tiếp tục đọc quyển tiểu thuyết Nga của mình, quyển tiểu thuyết được viết trên những miền núi Đaghextan mạnh mẽ và hoang sơ của Raxun Gamzatop.
Khi một người miền núi nhận ra trên bậc cửa nhà mình xuất hiện một vị khách lạ, anh ta sẽ chào mừng khách và đón tiếp bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất mình có. Bằng không, mưa gió sấm rền sẽ giáng xuống nhà anh ta. Hỡi ôi, mưa gió sấm rền!
Khi một người phụ nữ miền núi ngồi may áo choàng cho chồng, bao giờ cũng sẽ ngậm theo trong miệng một cọng rơm vàng. Vì họ tin rằng nếu chẳng may quên mất hay làm rơi mất cọng rơm ấy, tấm áo choàng ấm áp đang may sẽ biến thành tấm áo liệm lạnh lẽo ngay lập tức.
Khi trong nhà một người miền núi vừa có thêm một đứa bé trai, bạn bè của người bố sẽ bắn một viên đạn lên trần nhà để chúc mừng. Đôi khi, họ còn bắn xuống cả nền nhà, nếu đứa bé ấy từ bao lâu nay vẫn là một nỗi mong chờ lớn. Dân làng dù ở xa cách mấy khi nghe thấy tiếng súng cũng sẽ biết ngay điều gì vừa xảy ra. Tối đến, những bậc trưởng lão có vai vế và kiến thức uyên thâm sẽ tề tựu lại nhà anh ta để thực hiện nghi lễ đặt tên cho đứa bé. Những cái tên được núi và sông hát vang, được gió và chim đại bàng hát vang, sẽ đặt ra cho đứa bé những việc lớn lao phải làm và chỉ dẫn cho chúng đi đúng con đường của cuộc đời mình.
Càng đọc cô càng nhận ra đây không giống như những quyển tiểu thuyết bình thường khác.
Như có thể nhìn thấy núi đồi trải mình ra trong nắng, cũng như rất nhiều khói trắng đùn lên từ những chái bếp đơn sơ trong những đêm đông lạnh hay buổi sớm mai ấm áp.
Như có thể nhìn thấy bóng chim đại bàng đương bay lượn nơi đỉnh núi xa xôi và hiểm trở nhất; những đàn sếu dăng hàng mềm mại trên cánh đồng tốt tươi của ta; hay những khe suối sâu và xa, nước trong lành, mát lịm, bốn mùa đều nở hoa.
Lại như có thể bước đi trên con đường mòn dẫn từ làng mạc xuống phố xá, ngang qua những rặng núi già cỗi và trang nghiêm đến độ ngay cả người kỵ sĩ vĩ đại nhất cũng phải ngừng lại, ngả mũ kính cẩn chào trước khi nhảy lên yên ngựa và phi nước đại đường xa.
Và nếu thật cẩn thận lắng nghe, ta còn như có thể nghe thấy giọng già làng Abukhalip đang ngân nga bài thơ “Mặt trời vừa lên bên khung cửa” nhân dịp sinh nhật một tuổi của cậu bé Raxun.
Núi đồi và rẻo cao thường khiến trái tim cô cảm thấy yên tĩnh. Gió núi mát rượi thổi qua mặt cô. Những sợi tóc sáng ánh lên trong nắng. Cô sẽ trèo lên mái nhà để nhìn theo những người đàn ông của bản làng khi họ rời nhà đi làm đồng trong một buổi tinh mơ. Cô cũng sẽ nhón chân thật khẽ để đến đứng dưới ô cửa sổ trong căn bếp của các bà các mẹ, lắng nghe xem họ trò chuyện với nhau những gì, và đánh cắp bí quyết để cất được thứ rượu bắp vừa thơm lừng vừa ngầy ngật nhất. Nhưng thường xuyên hơn thế, cô biết, là những lần men theo lối mòn đầy hoa dại để leo lên những ngọn núi cao bao bọc quanh thôn làng. Ở nơi đó, mặt đất bằng phẳng và không quá nguội lạnh vì hơi ấm từ tro tàn của đống lửa đêm qua hãy vẫn còn sót lại, cô sẽ ngồi xuống một hòn đá đã được mài nhẵn bởi thời gian và ngắm nhìn đường bay của chim đại bàng.
Khi tỉnh dậy bởi những cái lay nhẹ nhàng từ một bàn tay mềm mại nào đó, cô nhận ra mẹ đang ở gần bên và nhìn cô bằng ánh mắt có chút lo lắng. Thật chậm rãi, cô nhìn mẹ trong giây lát trước khi trở người ngồi dậy. Niềm vui sướng như một sợi chỉ đỏ, đã từ giấc mơ nơi miền núi xa xôi ấy theo cô về đến hiện tại, khiến mẹ không hiểu lắm vẻ hài lòng hạnh phúc trên gương mặt lấm tấm mồ hôi của cô con gái thứ ngủ quên trước hiên nhà giữa một trưa oi nồng.
.
…
Chiều ngày hôm ấy, mẹ nhờ cô chở đi đến nhà một người quen, nơi bao năm qua cứ ba tháng một lần mẹ lại ghé sang lấy mối tàu dừa về tự bó lấy chổi dùng cho nhà. Nhân tiện, mẹ nói thêm, trên đường về con hãy ghé vào vườn ươm ở phía ngoài thị xã cho mẹ nhé.
Cô hơi ngạc nhiên khi nghe được điều này. Chẳng phải ngày thường mẹ vẫn hay càu nhàu thú chơi hoa cảnh của bố đó sao? Khi không chỉ khu vườn mà cả mảnh sân trước nhà cũng ngày càng sum suê và tấp nập những loại cây cối khác nhau, khi mọi thời gian rỗi của bố, sau việc đồng áng và đài phát thanh, chỉ quanh quẩn bên những chậu hải đường chẳng trổ được cái nụ nào bao giờ, hay những cây hoa chuông mùi thơm nồng và gắt, dàn tường vy sau mỗi trận mưa đêm lại rụng lả tả khắp nơi, và thậm chí là bọn thường xuân đã phủ kín hai mặt tường bên của gian nhà kho của mẹ.
Thế mà bây giờ mẹ lại bảo mình chở đi đến một vườn ươm cơ đấy? Cô nghĩ, với một niềm thích thú không rõ lý do bỗng dâng lên trong lòng.
Vào lúc 3 giờ chiều, nắng nhạt bớt và một cơn mưa bóng mây chỉ kéo dài trong năm phút đã ấp lỏng thị trấn trong một khung cảnh tuyệt đẹp với chiếc cầu vồng trên nền trời phía Tây. Cô đẩy xe máy ra khỏi nhà, ngắm dòng nước trong lăn tăn chảy dưới mương và những bong bóng nước thật nhỏ do đám cá rô thở ra trong lúc chờ mẹ. Đứng bên dưới tàng cây bò cạp vàng sau cơn mưa là một điều không khôn ngoan chút nào. Chúng chỉ chực có gió là rải ngay đám nước mưa li ti còn đọng lại trên lá xuống người chúng ta.
Đường vắng và có nhiều đoạn xâm xấp nước. Cô phải chạy khá chậm và cẩn thận để tránh những vũng nước bẩn đọng lại trên mặt đường. Có lúc, khi ngẩng đầu lên, cô nhận ra chiếc cầu vồng đang ở ngay trước mặt, lung linh như hiện ra sau một mặt nước luôn rập rờn. Con đường ngày càng chạy dài ra mãi, cầu vồng bảy sắc cũng ngày càng nhạt màu dần đi, nhưng hơi ấm mỏng manh tỏa ra từ bàn tay chạm nhẹ vai cô của người phụ nữ ngồi sau, khiến cô tin rằng mình có thể như thế này mà đi đến bất cứ nơi đâu trên mặt đất này.
Ở vườn ươm, mẹ xem qua rất nhiều hoa lan, đồng thời cũng hỏi thăm thật cẩn thận và kỹ lưỡng về các cây thuốc Nam cần thiết và có thể trồng được trong vườn nhà. Cuối cùng, cùng với túi hạt giống của cây tía tô và bạc hà, mẹ còn chọn mua thêm một chậu hoa dành dành trắng. Dành dành trắng đang trong thời kỳ ra hoa, giữa những chiếc lá xanh nở ra một cái hoa trắng muốt có hương thơm dìu dịu. Cô đặt bên cạnh nó một chậu sống đời với những cái lá xanh biêng biếc như thể thu tất cả nắng vào mình. Những cái lá rập rờn trong gió, những cái lá cho đời thêm xanh.
Thuyết phục mãi, mẹ mới chịu ôm chậu dành dành trong tay, đứng bên cạnh cô, ngượng nghịu để cho cô chủ vườn ươm chụp giúp hai mẹ con một tấm ảnh bằng điện thoại di động cô mang theo.
Tấm ảnh ấy, về sau này, trong một thời gian rất dài, đã được cô dùng làm hình nền cho điện thoại.
Không trông rõ gương mặt mẹ, không nhìn rõ ánh mắt cô, chỉ có cây hoa dành dành ở giữa mẹ và con gái.
Tinh khiết. Trong ngần.
*
Đêm cuối cùng ở nhà, một đêm tối có mưa rơi, cô sang ngủ cùng mẹ. Trong bóng tối, hơi thở mẹ nhẹ nhàng và tinh khiết, dáng mẹ ngủ buồn bã và cô đơn. Cô vòng tay ôm lấy mẹ, vùi mặt vào tóc mẹ. Khi nhớ ra rằng chính cơ thể gầy gò cô ôm trong tay ngay lúc này đây đã sản sinh ra hai sinh mệnh khác và giúp cô có mặt trên cuộc đời này, trái tim cô bỗng dưng nặng trĩu. Đến cuối cùng, Hội An vẫn không có được mẹ. Rồi vào những lúc rất bất chợt trong những năm tháng sau này của mình, cô sẽ ở những nơi xa xôi nào đó và nhớ đến mẹ, cùng với niềm mong mỏi đã dần trở thành day dứt vì mãi vẫn chưa thực hiện được ở tuổi thiếu thời xa xưa. Đôi khi, cô tự hỏi vì sao mình phải đi xa đến thế, trong khi hạnh phúc thật sự của một đời người chỉ đơn giản là trong một đêm mưa, nằm bên cạnh mẹ, nhìn ra khu vườn sáng mờ trong bóng tối, và lắng nghe tiếng mưa gõ nhịp trên những mái nhà?
.
Khi trái tim cô đang mải miết trên những chặng đường lang bạt, trong cô vẫn ẩn giấu một khát vọng sâu kín về niềm tự tại sau cùng.
Sẽ được nằm lại vĩnh viễn trên quê hương mình.
Thảo luận
Chưa có phản hồi.