2.
Cô đã đi du lịch một mình rất nhiều lần. Thế nhưng, đi cùng mẹ, là điều trước giờ chưa từng xảy ra.
Cô phát hiện ra điều này vào đầu tháng trước, khi phải nằm lại một khách sạn nhỏ ở Đà Nẵng đến một tuần vì trận cảm bất ngờ trong chuyến đi. Suốt thời gian đó, cô tắt điện thoại di động, chỉ ở lì trong phòng, mỗi ngày ba bữa lót bụng bằng món cháo hành giải cảm do nhân viên phục vụ mang đến, và cố uống cho bằng hết những viên thuốc đắng nghét có tác dụng hạ sốt, cầm ho, và thông mũi. Khi liên lạc về công ty, cô dùng máy bàn của khách sạn. Cô nhờ bạn đồng nghiệp thân nhất hãy lựa lời nói giúp nếu mẹ có gọi đến. Hãy bảo với mẹ rằng cô đang có một chuyến công tác xa và sẽ gọi ngay cho mẹ khi cô về đến nơi.
Cuộc điện đang nói dở thì di động của bạn cô chợt hết pin. Mọi thứ diễn ra rất đột ngột, chỉ loáng thoáng nghe thấy lời dặn dò hãy cố gắng nghỉ ngơi của bạn, rồi một loạt những tiếng tút tút dài đã nối nhau ngân lên. Một mình cô ngồi đó, giữa căn phòng đơn của khách sạn, nhìn chăm chăm vào bức tranh tĩnh vật phía bên kia tường, chờ mãi cho đến khi những tiếng tút ồn ào kia ngưng bặt và mọi âm thanh từng có lại chìm vào lặng im. Chính vào giờ phút đó, cô bỗng nhớ đến mẹ, nhớ đến niềm mong mỏi đầu tiên đã chớm mầm trong lòng cô vào năm hai mươi tuổi không gì khác hơn là đưa mẹ đi du lịch cùng. Và cũng nhớ đến cả việc đã bảy năm dài trôi qua, ấy thế mà việc đó mãi vẫn chưa thể xảy ra.
Khoảng cách giữa mẹ và con gái dường như chỉ có thể thuộc một trong hai dạng, hoặc là gần kề bên nhau như hai quả tim chung một nhịp đập; hoặc là cách nhau rất xa, người phương trời này kẻ miền đất nọ, chỉ có thể gặp được khi mặt đất phẳng êm như một tờ địa đồ màu đỏ – người ta sẽ gấp đôi tấm địa đồ ấy lại và những nơi chốn sẽ chồng lên nhau. Trọn vẹn.
Trong bảy ngày nằm bệnh đó, cô luôn nhớ đến mẹ và cái thị trấn nhỏ nhắn ngày này qua năm khác mẹ đã trải qua cuộc đời mình. Cô tự hỏi vì sao mình lại nhớ đến những điều đó. Vì sao không phải vào một thời điểm nào khác mà lại ngay chính lúc này? Lẽ nào chỉ vì cô đã cảm thấy tủi thân xiết bao khi lần đầu tiên bị ốm mà chỉ có một thân một mình, hơn nữa còn ở một nơi đất khách quê người như thế?
Những khi chuyện phiếm trong nhà, mẹ vẫn thường bảo, lúc còn nhỏ, trong số các anh chị em, cô là người ít đau ốm vặt nhất. Chỉ duy nhất một lần sốt phát ban lúc hai mươi tháng tuổi buộc mẹ phải đón xe đưa cô lên tận bệnh viện thành phố vào lúc 4 giờ chiều, ngoài ra, lúc nào cũng thấy cô cười nói luôn miệng. Bên cạnh đó, cô còn là một đứa bé hiếu động và rất tò mò. Khi trông thấy người lớn làm một việc gì đó là lạ, ngồ ngộ – những việc mà trước đó cô chưa trông thấy qua bao giờ – cô sẽ bám theo và đưa ra những câu hỏi, liên tục, cho đến khi đã cảm thấy hài lòng mới thôi. Dù người lớn ấy có tốt bụng và nhẫn nại đến mấy thì chẳng mấy chốc cũng sẽ cảm thấy đau đầu vì mớ câu hỏi liên tu bất tận của cô. Nhưng dù có đau đầu hay phát cáu đến mấy, cũng chẳng thể vặc lại một đứa trẻ rằng: “Cháu đừng hỏi nữa! Phiền quá đi mất!” Thay vào đó, những người lớn đáng mến ấy chỉ thường bất đắc dĩ kéo chiếc khăn choàng trên vai lau qua quýt lên mặt, rồi vờ ngáp to và vươn vai đứng lên, dù vẫn chưa hề xong việc: “Hôm nay bác mệt rồi, để khi khác cháu nhé!” Một lần, hai lần, rất nhiều lần. Gom lại mà đếm, tất cả đầu ngón tay và đầu ngón chân đều phải chào thua số lần những bác người lớn nợ lại “khi khác” của cô.
Nhưng khi lớn lên, thể trạng và cả tâm tính cô bắt đầu chịu sự ảnh hưởng rõ rệt của mùa.
Lập xuân, cô thường ngủ nhiều vào ban ngày và chỉ tỉnh táo khi đêm xuống. Đó gần như là một sự đổi chiều của quả lắc đồng hồ sinh học trong cô. Khoảng thời gian đó, ngoài những lúc bắt buộc phải ra ngoài, cả ngày trời cô chỉ thích quanh quẩn qua lại trong nhà. Giấc ngủ trưa của cô thường bắt đầu từ 10 giờ sáng và đến tận 5 giờ chiều mới có thể thức dậy. Ngược lại, trong đêm, cô minh mẫn lạ thường. Hệt như con cú mèo vẫn thường xuyên bay đến và đậu lại trên chạc me trước cổng nhà, bất động hàng tiếng đồng hồ, chỉ để rình bắt bọn chuột nhắt vẫn hay bạo gan ra khỏi hang vào những đêm sáng trăng và tha về tổ phần cơm thừa của lũ chó nuôi trong nhà.
Cô vẫn hay mở toang cửa sổ ở bàn học, vừa làm bài tập toán vừa quan sát con cú mèo ấy. Tiết trời mùa xuân về đêm rất mát mẻ. Gió lùa qua khung cửa, lật những trang sách của cô kêu ‘sột soạt’, đôi khi còn mang theo cả hương thơm dìu dịu của hoa quế. Ánh sao chi chít đầy trời như muốn trút cả xuống sân nhà cô một mẻ tinh tú to. Vầng trăng sáng trong soi rõ mọi con đường trong đêm tối. Những điều đó khiến cô cảm thấy tiếc thay cho những ai đang say ngủ. Cô làm bài tập toán xong lại chuyển sang soạn trước bài văn, rồi vẽ bản đồ phân bố khoáng sản cho môn học địa lý, chia thì cho các động từ tiếng Anh phức tạp, vẽ miệt mài từng nét cấu tạo của một con trùng đế giày nào đó cho giờ sinh.
Cô thiếp đi lúc nào cũng không hay, khi ngẩng lên thì bầu trời tinh tú ngoài cửa sổ đã được thay thế bằng ánh sáng mai vàng nhạt. Con cú mèo cũng đã đập cánh bay đi từ lúc nào và gió uốn cong những ngọn cây non phía xa xa. Tiếng xe chạy rất khẽ vẳng đến từ đâu đó, cả tiếng lục đục trong bếp pha ấm trà sớm, tiếng gà gáy gọi bình minh, tiếng sương rơi trên đầu ngọn cỏ, tiếng chổi tre quét lá, tiếng nước róc rách chảy qua những đoạn ghập ghềnh dưới lòng mương, tiếng tạt nước rào rào trên mặt đất từ những hàng ăn dọn sớm.
Vào mùa hạ, đôi khi cô lại bắt gặp mẹ đang nhìn mình bằng một ánh mắt rất đỗi buồn phiền. Cô biết nguồn cơn gây ra nỗi buồn đó. Cô thường sụt cân rất nhanh trong mùa hạ. Không ai biết tại sao lại thế. Nhưng mỗi khi chợt nhớ đến và quay đầu lại nhìn cô, mọi người đều có cảm giác rằng con bé ấy lại gầy đi đôi chút. Và cô vẫn thường đáp lại ánh nhìn thắc mắc của họ bằng một vẻ láu lỉnh của kẻ đã giành được chiến thắng trong trò chơi bằng cách sử dụng một mẹo nhỏ nào đó chẳng ai biết. Nhưng trước ánh mắt buồn phiền của mẹ, cô chỉ khẽ cười áy náy. Người ta chăm một cái cây còn có ngày thấy nó lớn bổng lên và sum suê trĩu quả, nhưng những tháng những năm mẹ nuôi cô, mùa hạ chỉ thoáng đến đã giật lấy đi mọi thành quả của người.
Nhưng rồi, cũng chỉ những trận cảm cuối năm là khiến mẹ lo lắng nhiều nhất. Những lúc ấy, cô thường sốt cao và không thiết ăn uống bất cứ thứ gì. Mẹ sẽ xuống bếp nấu cho cô bát cháo thịt nóng hổi, đập vào thêm một quả trứng gà, rồi ép cô ăn cho bằng hết mới thôi. Mẹ sẽ thoa dầu và đánh gió khắp lưng cô. Sẽ lại đi xin lá thuốc về nấu nước cho cô xông. Sẽ bắt cô rời xa máy tính, không được thức quá khuya, không được xem ti vi, không được uống nước ướp lạnh trong tủ lạnh, không được mở quạt máy trong lúc ngủ và gội đầu quá trễ vào buổi đêm. Những lúc bị ốm, cô chỉ nằm đó, chăn đắp đến ngực, nhỏ bé tuyệt đối, yếu ớt tuyệt đối, và được mẹ yêu thương tuyệt đối.
Có lẽ vì đã được bảo bọc một cách cẩn thận như thế trong một thời gian dài đến thế mà sau khi xa mẹ, bắt đầu cuộc sống tự lập hoàn toàn ở thành phố vào năm 22 tuổi, cô đã ốm đến năm lần chỉ trong một năm. Những lần ốm không có mẹ, cô vẫn chỉ nằm đó, chăn đắp đến ngực, trong căn phòng trọ tối tăm và ẩm mốc, bụng lép kẹp chỉ vài muỗng cháo ăn liền nuốt vội, nhỏ bé tuyệt đối, yếu ớt tuyệt đối, và đơn độc tuyệt đối.
Buổi trưa nắng to, căn phòng như bị nung đỏ trong sức nóng hầm hập của mặt trời bên ngoài. Cô nhớ đến bàn tay của mẹ, đôi bàn tay gầy guộc nhưng mát lành cứ mươi phút một lần lại áp lên trán cô thăm dò thân nhiệt khi ấy, nước mắt chỉ chực rơi ra.
Vì thế cũng không có gì lạ khi lần bị ốm ở Đà Nẵng đó cô vẫn lại nhớ đến mẹ như mọi lần trước. Khác chăng, chính là niềm mong mỏi thuở thiếu thời cũng đã theo đó tìm về trong cô. Cô muốn đi du lịch với mẹ. Muốn cùng mẹ đi đến một vùng đất cả cô và mẹ đều chưa từng đi qua. Cao nguyên với núi cao đồng rộng cũng tốt, mà ra biển ngắm những con sóng đầu bạc và cảm thương cho phận người ngắn ngủi cũng rất hay. Cô sẽ đỡ tay mẹ trên lối mòn men theo triền đồi thấp, hoặc khoác tay mẹ đi trên bờ cát lúc hoàng hôn. Cô cũng sẽ giúp mẹ chải tóc vào buổi sáng, khi vừa thức dậy, và xoa bóp dịu dàng những khớp xương nhức mỏi của người trong giấc ngủ chập chờn, vào lúc giữa đêm. Cô muốn chăm sóc cho mẹ, hệt như hai mươi mấy năm qua, mẹ đã và vẫn luôn chăm sóc cho cô.
Giữa lúc sắp chìm vào mê man và ảo giác do cơn sốt gây ra, cô bỗng nghe thấy tiếng gõ cửa của người nhân viên khách sạn. Cô nghe giọng mình khản đặc khi lên tiếng bảo anh ta cứ vào vì cửa không khóa. Thoạt tiên là tiếng nắm cửa xoay vang kêu khe khẽ, rồi đến tiếng chân người dè dặt bước vào phòng. Sau đó là một mùi thơm mà hẳn là của cháo trắng tỏa ra, một tiếng ‘cạch’ khẽ vang lên khi chiếc khay sứ đặt xuống bàn, rồi tiếng bước chân cẩn trọng quay ra, và cánh cửa khép lại cùng với một âm thanh khô khốc nhỏ.
Cô nhắm mắt lại, tự hỏi, không biết dáng vẻ lúc ốm của mẹ như thế nào? Ai sẽ là người nấu cháo thịt, bắt gió và nấu nước thuốc cho mẹ xông? Ai sẽ là người bắt mẹ phải ngủ thẳng giấc đến sáng, không được thức dậy quá sớm chỉ để ra vườn gom đầy những vụn lá khô và dọn rửa mớ chén đĩa của bữa cơm tối qua? Ai sẽ ngồi bên cạnh trông giấc ngủ cho mẹ? Ai sẽ lấy nước và đưa thuốc tận tay cho mẹ uống? Ai sẽ mươi phút một lần đặt tay lên trán mẹ và tay còn lại lên trán mình để so xem thân nhiệt của mẹ đã giảm hay chưa?
Những khi mẹ ốm, cô đang làm gì? Lang thang đâu đó trên đường phố Sài thành với tất cả chênh vênh và cô đơn của tuổi trẻ? Đi cùng bạn đến một rạp chiếu và xếp hàng trong dòng người đông nghịt để mua cho bằng được vé vào của suất chiếu đầu tiên một bộ phim đình đám trong năm? Rong ruổi bằng xe máy trên con đường thiên lý xuyên Bắc Nam, nghe gió bạt tóc, nghe tự do bạt lòng?
Cũng có thể, khi cô đứng dưới chân cờ Lũng Cú, nơi Hà Giang địa đầu Tổ Quốc, cảm nhận cái hạnh phúc trọn vẹn của một người con được sinh ra và lớn lên dưới bầu trời tự do, mẹ đã phải tự xuống bếp pha lấy ly sữa nóng cho mình, và nằm một mình trong gian buồng nóng nực đó. Đôi khi, mẹ sẽ cất tiếng gọi, nhờ ai đó lấy cho mình một ly nước hay chút mứt tắc ngậm cho đỡ đắng miệng.
Nhưng rồi, khi nhớ ra trong căn nhà quạnh quẽ ấy ngoài mình ra thì chẳng còn ai, mẹ sẽ im bặt đi, nhắm mắt lại và thở khó nhọc trong một cơn ho mới vừa kéo đến.
.
*
Vì tất cả những lẽ ấy, đầu tháng ba, sau trận ốm, khi trở về Sài Gòn từ Đà Nẵng, việc đầu tiên cô làm chính là nộp đơn xin thôi việc ở công ty đang làm. Trong tờ đơn, ở phần lý do cô chỉ viết đơn giản: cảm thấy nhớ và muốn quay về sống ở quê nhà một thời gian.
Cấp trên của cô, người đàn ông ở đầu độ tuổi tứ tuần đã gầy dựng được một mái ấm khang trang giữa lòng thành phố, sẽ không bao giờ hiểu được tâm tình của cô gái trẻ. Ngày thường anh ta chỉ thấy cô nhạy cảm và u buồn hơn mức cần thiết, một kẻ kém tinh nhạy khi chẳng bao giờ xuất hiện trong các đám tiệc, quan hệ xã hội hạn hẹp vì luôn từ chối đám đông và hết thảy cơ hội quý giá do nó mang lại. Song, những tour du lịch do cô ta thiết kế lại chiếm được khá nhiều cảm tình của khách hàng trong những cuộc khảo sát nhằm đánh giá hình ảnh công ty trong giới lữ hành nội địa. Đợt thi vinatourguide 2 năm trước cũng chính cô gái trầm lặng đó đã bất ngờ mang về giải 3 ngoài mong đợi cho công ty, qua số phiếu bình chọn suýt soát của lữ khách.
Họ thích điều gì ở cô ta, hay bị thu hút bởi những điểm nào trong tác phong làm việc? Đó là điều anh ta chẳng bao giờ có thể hiểu nổi.
Mà cũng chẳng phải việc to tát gì.
Công ty có thừa tài lực và uy tín để mỗi khi có đợt tuyển dụng số hồ sơ xin việc nộp vào đủ xông xênh để một trưởng phòng như anh ta có thể tùy nghi xét chọn. Không để tâm quá nhiều đến đời tư và lối sống của nhân viên là một trong những nguyên tắc làm việc cơ bản của anh ta.
Thế nên, khi nhận tờ đơn xin thôi việc của cô, ánh mắt của người đối diện chỉ thoáng qua một tia ngạc nhiên, rất nhanh, rồi sau đó như đã hiểu ra tất cả hoặc chẳng buồn màng đến gì cả, chỉ bình thản ký tên chấp thuận mà không một lần nhìn đến cô.
Ra khỏi công ty, cô bắt xe đến nơi làm việc của anh cả. Nhưng khi đến trước cổng tòa soạn, hỏi người trực ban, cô ta cho hay rằng anh cô vừa mới lên đường xuống miền Tây tác nghiệp từ tối ngày hôm qua, có lẽ đến đầu tuần sau mới về. Cô nghĩ đến chị dâu và hai đứa cháu nhỏ đang độ tuổi bi bô tập nói. Nhưng ánh mắt cương quyết và cách chị luôn nhìn chằm chằm vào người đối diện suốt cuộc trò chuyện khiến cô mệt mỏi nhiều. Cô bảo xe chuyển hướng đi đến một trường mầm non ở phía Tây thành phố.
Nhà trẻ Sao Mai nom như một khối rubik bảy màu tỏa sáng rực rỡ trong nắng sớm. Xuống khỏi xe, cô băng qua đường, đứng bên ngoài hàng rào song sắt nhìn vào đám trẻ nhỏ đang chơi đùa trong khoảng sân ngập bóng râm. Cô đưa mắt tìm kiếm hai đứa cháu của mình. Chúng đang chơi trò bập bênh ở ngay giữa sân. Cô bước nhanh về phía đó rồi vẫy tay gọi chúng. Hai gương mặt giống nhau như tạc cùng lúc ngoảnh nhìn về phía cô. Rồi như hai con chim non, chúng leo xuống khỏi bập bênh, chạy ùa về phía cô, niềm vui rạng rỡ bừng lên trên gương mặt: “Cô ba, cô ba!”
Chúng reo lên gọi cô và đến đủ gần để cô có thể đưa tay qua hàng rào và sờ lên mớ tóc tơ mịn màng của chúng. Nhìn vẻ hớn hở trên gương mặt chúng, cô tự trách mình sao đã không mua theo một món quà bánh nào. Nhưng chắc gì những cô giáo mầm non đã hài lòng với ý định ấy của mình – cô nghĩ thêm – chẳng phải họ coi sóc tất cả mọi thứ và quyết định xem lũ trẻ có thể bỏ vào miệng những gì, những gì sao?
Trong khi hai đứa cháu tranh nhau líu lo hỏi cô hết việc này đến việc khác – Sao cô Ba biết tụi con học ở đây? Sao hôm Tết rồi về nhà bà nội không thấy cô Ba đâu? Sao cô Ba lại ở đây, bố bảo cô Ba không ngoan nên đã bị Ông Ba Bị tha đi mất rồi? Cô Ba ơi, cô giáo dạy tụi con thắt con cào cào bằng lá tre, nhưng chẳng có ai thắt đẹp bằng ông nội hết, mà ông nội thích ăn nhất là quả hồng ấy. Cô Ba, cô Ba, có phải hoa đồng tiền sẽ nở ra những đồng tiền thật không, có thể dùng để mua kẹo mút hay bánh snack vị khoai lang tây ấy?…- thì cô vẫn chỉ im lặng ngắm chúng
Sau cùng, cô chỉ bảo chúng cô có việc phải đi. Khi lục tìm trong túi xách, tình cờ trông thấy hai cây bút chì mới mua vẫn chưa kịp dùng đến, cô lấy ra cho chúng, vuốt ve hai cái đầu tóc tơ mềm mượt ấy thêm lần nữa rồi xua tay bảo chúng quay vào.
Chiếc bập bênh khi nãy đã có người khác ngồi vào, hai đứa cháu của cô bèn kéo lại chỗ cầu tuột và xếp hàng chờ đến lượt mình. Cô ngắm một lúc lâu ánh nắng buổi sáng chiếu lên tóc chúng và màu hồng phớt đỏ của những bông hoa mười giờ nép mình dưới chân hàng rào, rồi quay đi.
Trong lúc đứng ở bến đợi chuyến xe về nhà, cô đi lại quầy trái cây gần đó và hỏi xem có quả hồng hay không. Vừa phe phẩy chiếc nón lá vừa dùng tay vén vệt trầu lem nhem quanh miệng, bà chủ quầy trả lời rằng mùa này vẫn chưa có hồng. Bằng một giọng chẳng mấy nhiệt tình và rõ là chỉ nói thêm cho có, bà hất mặt qua loa về phía mấy giỏ quýt và hỏi xem cô có muốn không.
Thế nhưng, cô lại gật đầu ngay mà chẳng chút do dự nào.
.
….
Xe buýt thả cô xuống ở đầu thị trấn, từ đó về nhà còn phải mất thêm mười phút đi xe máy. Túi quýt ôm trước ngực, giỏ xách khoác trên vai, cô vẫy tay, gọi một chiếc xe ôm bên kia đường. Trời lúc này đã ngả dần về chiều. Những cây me cổ thụ chạy dọc hai bên đường cứ xào xạc trong gió rồi thả xuống vô số những chiếc lá bé tẻo teo. Cô trông thấy một nhóm nhỏ họp chợ ngay trên vỉa hè, phía trước một xưởng mộc chuyên nhận gia công các vật dụng trong nhà. Rất nhiều học sinh đang cưỡi xe đạp về nhà sau giờ tan lớp. Những quầy bán thức ăn đêm cũng đã dựng xong lều, bạt che chắn. Nồi nước dùng sôi lục bục trên bếp than đỏ hồng. Từ những vỉ nướng ngoài trời, gió cuốn đến mùi thịt cháy thơm nức mũi.
Cô xuống xe ở đầu ngõ, đứng lại nơi đó một lúc lâu rồi mới đi bộ xuống con dốc dẫn về nhà. Những tán lá rộng của cây sake in xuống nền đất những cái bóng nhiều khía cạnh. Cô nhớ lại đã có lần nghe ai đó bảo rằng đỉnh đầu con dốc này là nơi nhìn trời đẹp nhất. Bước chân chậm lại, dõi mắt ra xa, cô trông thấy những cụm mây trắng trôi lơ lửng đâu đó trên đỉnh đầu ngọn tre. Con nắng cuối ngày giăng mắc trên khắp các mái nhà trong xóm. Ngay cả bụi hoa nhài ngày nào còn mới ngang vai cô bây giờ cũng đã lừng lững cao vượt quá cả tường.
Cô đi thêm mươi bước nữa. Cô dỏng tai nghe ngóng, thử xem có tiếng chổi quét sân nào đang sàn sạt vang lên đâu đây. Một đám con nít chơi đá bóng đuổi nhau chạy ùa qua chỗ cô đứng, í ới gọi tên nhau. Vài cậu thanh niên trong xóm đang tụ tập bên bờ mương câu cá nhân con nước lớn. Giữa đám cây lá chập trùng của những ngọn cây vươn cao, một làn khói trắng bảng lảng vờn quanh. Trong gió có mùi lá cháy và cỏ khô đưa đến.
Cô nhắm mắt lại.
Cái dáng mẹ lom khom quét lá, cái bóng mẹ ngồi một mình bên ngọn lửa vừa nhen giữa khu vườn rộng, cái cách mẹ thở phào nhẹ nhõm khi ánh lửa ngày càng đượm và tiếng tí tách reo vang. Bất cứ khi nào cô lên tiếng gọi, mẹ đều sẽ ngoảnh lại, cả khuôn mặt hồng lên vì lửa nóng, và đôi mắt nhìn cô như muốn nói rằng. “Con gái, sao con lại chậm thế? Lửa đã gần tàn rồi.”
.
*
Cô không nói cho mẹ biết về chuyện mình đã thôi việc. Cô chỉ bảo mình lấy hết phép nghỉ của hai năm qua, sẽ về ở với mẹ trong cả tháng này. Nghe thế, còn chưa kịp mừng rỡ, mẹ đã tất tả đi quét dọn phòng cho cô ngay. Căn nhà vắng vẻ, cô ngó nghiêng hết trên dưới mà vẫn chẳng thấy bố đâu. Hỏi thì mẹ cho hay, bố đã đi dự đám cưới một người bà con trong họ từ sớm, có lẽ đến chiều mai mới về. Cô thầm nghĩ, lẽ ra mình phải đoán ra ngay là bố vắng nhà chứ, có khi nào bố ở nhà mà chiếc radio im tiếng được đâu nào?
Cô đi ra bếp, thấy trên bếp lửa là một nồi nước to đang bắt đầu sủi bọt tăm. Một thanh củi cháy tàn chực rơi ra ngoài. Cô dùng kẹp đẩy nó vào trong và cho thêm vào hai ba thanh khác. Cái bếp ba chân ám bồ hóng đen kịt, hầm trên là lửa cháy hừng hực, hầm dưới đầy ắp một lớp tro tàn màu xám trắng mịn màng.
Cô ngồi xuống trên cái ghế nhỏ đặt ngay ngắn trước bếp lửa từ trước. Ngọn lửa nhảy múa trước mắt cô, tỏa hơi ấm mơ màng ra khắp căn bếp nhỏ. Nhánh cây mận mọc chĩa cạ vào mái nhà tạo nên âm thanh kèn kẹt mỗi khi gió thổi qua. Cô ngồi đấy, mặt tựa gối, tóc kề vai, lắng nghe tiếng củi cháy và tiếng lục đục dọn dẹp đồ đạc của mẹ ở nhà trên.
Những bong bóng nước nổi lên ngày càng nhiều rồi chen nhau vỡ ra. Tiếng lục bục vang lên to dần. Cô bớt lửa, với lấy hai chiếc bình thủy trên kệ bếp, thật cẩn thận nhấc nồi xuống và đổ đầy nước vào. Phần thừa còn lại, cô mang ra pha vào nước tắm cho mẹ. Sau đó, cô đổ một lớp nước khác vào nồi, đặt lại trên bếp, chỉ cốt cho đám lửa còn sót kia cháy tàn hẳn.
Lúc quay lên nhà trên, cô thấy căn phòng mình ngủ ngày xưa đã được mẹ quét dọn đâu vào đó. Cô mang đồ đạc vào phòng, soạn quần áo ra giường, nhét thêm vào giá sách dăm ba quyển vừa mua, cất kỹ mớ thư từ cá nhân vào tủ, rồi nằm bệt ra sàn hồi lâu. Từ chỗ đang nằm, cô có thể nhìn thấy tấm ảnh chụp năm 17 tuổi của mình treo phía bên trên đầu giường. Trong ảnh, cô mặc một loại quần yếm có hai dây đeo ngang vai, bên trong là áo sơ mi thêu hoa cổ áo viền bèo, đứng trước một cánh đồng hoa ở Đà Lạt, cười rạng rỡ trong nắng. Chuyến du lịch kỷ niệm cuối năm cấp ba ở vùng cao nguyên phố núi. Cũng là lần đầu tiên cô đi đến một nơi xa xôi nào đó. Nhưng lại không phải là lần cuối cùng.
Cô bỗng nhớ tới cuộc hẹn ở Hội An vào đầu tháng tư đến. Lá mail đến tận một tháng sau khi gửi đi cô mới nhận ra đã gõ nhầm mất một ký tự trong địa chỉ người nhận. Nếu không có sự nhầm lẫn ấy, liệu cô sẽ nhận được một hồi âm nào đó thay vì chỉ là khoảng im lặng dài 30 ngày trắng toát vừa qua? Cô nghiền ngẫm cái suy nghĩ ấy hàng chục lần trong đầu mình, và cuối cùng, như mọi khi, lại nhớ đến gương mặt người thanh niên ấy cùng với dòng thư ngắn gọn đến độ khiến người nhận được phải phiền lòng.
“Khi tháng tư về, bên chân cầu An Hội, hoa đăng, thắp sáng đêm trăng rằm.”
Thảo luận
Chưa có phản hồi.